+ Trả Lời Ðề Tài
Trang 2 trong 3 Đầu tiênĐầu tiên 1 2 3 Cuối cùngCuối cùng
kết quả từ 11 tới 20 trên 21
  1. #1
    Tên thật:
    Nguyen Duc Thanh
    Tên Thánh:
    Cosma - Maria
    Gia nhập
    06-08-2011
    Nơi cư ngụ
    Gp. Tp. HCM
    Tuổi
    50
    Bài gởi
    3,917
    Cám ơn
    12,464
    Được cảm ơn: 9,105 (3,752)
    Điểm
    5

    Thơ HAIKU - với người Việt

    Thơ HAIKU - với người Việt

    Thơ haiku là thể thơ ngắn độc đáo của Nhật Bản gồm 17 âm tiết 5 – 7 – 5, ngắt nhịp thành 3 câu có lịch sử hơn 400 năm. Thơ haiku ghi lại sự vật / sự việc một cách hiện thực, đơn giản nhưng truyền tải cảm nhận sâu sắc cho người đọc. Đề tài của thơ haiku thường là thiên nhiên và các mùa trong năm vì thế thơ haiku có luật cơ bản là phải có từ chỉ mùa, tiếng Nhật gọi là kigo (季語) dấu hiệu cho biết bài thơ đang miêu tả mùa nào.

    Trên thế giới cũng như tại Việt Nam, những ai yêu thích thơ chắc cũng đã có lần từng được nghe đến thơ haiku nhất là các bài thơ của nhà thơ Matsuo Basho, nổi tiếng nhất là bài thơ về con ếch.

    Ao cũ
    Con ếch nhảy vào
    Vang tiếng nước xao.
    (Nhật Chiêu dịch)



    Trong thực tế : Thơ haiku bằng tiếng Việt gồm 3 câu, số từ mỗi câu theo thứ tự không quá 5 – 7 – 5 từ. Thơ haiku bằng tiếng Nhật gồm 3 câu theo thứ tự 5 – 7 – 5 âm tiết.

    Mời ban và tôi cùng ngiền ngẫm Thơ Haiku của các tác giả Việt đã đoạt giải Thơ Haiku năm 2009 , do Tổng Lãnh sự quán Nhật Bản tại TP.HCM, Báo Tuổi trẻ, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP.HCM tổ chưc nhé :

    * Giải nhất: Nguyễn Thánh Ngã (Lâm Đồng)


    Đứa trẻ


    Xó chợ


    Chiếc lon trống

    Hạt mưa mồ côi


    * Giải nhì: Trần Xuân Thái (Đăk Lăk, BD: Dzạ Lữ Kiều)



    Đêm


    Trăng khuyết treo trời đêm

    Sợi mây trắng choàng qua đỉnh núi

    Giòng sữa chảy êm đềm



    * Giải ba: Nguyễn Đức Mẫn (Hà Nội)


    Tiếng vạc đêm đo trời



    Mẹ gọi từ xa xăm nỗi nhớ

    Gió hụt hơi thắt lòng



    * Giải khuyến khích: Nguyễn Văn Long (Hà Nội)

    Tự vấn


    Đá hằn vết thời gian

    Trán người nhăn một đời nghĩ ngợi

    Nét nào vào sông núi



    * Giải khuyến khích: Hoàng Thị Thương (Đà Nẵng)

    Chiều chủ nhật phố đông

    Người ăn xin bên đường ngửa nón

    Thu thả chiếc lá vàng


    Dưới cái nhìn của thơ ca, thế giới hiện ra như là giai điệu đầy hơi thở sự sống. Ở đây và bây giờ. Khoảnh khắc và vĩnh cửu. Cái nhỏ và cái lớn.

    Những người làm thơ haiku trong cuộc chơi này dẫn ta vào giai điệu ấy.Vừa nghe mưa rơi, tôi vừa bất ngờ bắt gặp bài thơ đầy âm vang vô thanh này:

    Con cá thở
    Bọt bong bóng vỡ
    Mưa phùn

    (Nguyễn Thế Thọ - Đà Nẵng)

    Hãy lắng nghe cá thở, nghe niềm vui của cá. Hãy lắng nghe bọt nước, nghe mưa phùn, nghe giai điệu tinh tế ấy của đời! Cùng tác giả này, ta lại thấy:

    Đóa hướng dương
    Nhú trong vườn cỏ
    Ngày không mặt trời

    (Nguyễn Thế Thọ - Đà Nẵng)

    Giữa khát vọng và thất vọng, là đóa hướng dương ấy, trong một ngày không nắng. Vượt lên niềm vui và nỗi buồn là đóa hướng dương ấy. Đóa hoa ấy sống trong sự vắng mặt của mặt trời mà vẫn không tuyệt vọng. Đó mới thật sự là…hướng dương. Khi thơ haiku làm cuộc viễn du khắp thế giới thì nguyên tắc về KIGO (quý ngữ, hay từ chỉ mùa) không nhất thiết phải tuân thủ. Tuy nhiên, bài haiku sau đây lại dùng “từ mùa” rất tuyệt:
    Cúc áo bung ra
    Một cõi trắng ngần
    Hạ đến

    (Trần Đức Việt – Bình Định)

    Có một vẻ đẹp hiện đại, đầy gợi cảm trong bài thơ trên. Ta cảm nhận được cái nóng hổi của mùa hạ và hơi mát tinh khiết của một làn da. Mùa thay áo đổi. Giao cảm giữa người và mùa. Giữa thời hiện đại, thơ haiku vẫn kéo mọi người về với mùa, với thiên nhiên, với trăng:

    Trên đầu ngọn cây

    Khỏang trống nơi cành khô gãy
    Một mảnh trăng lấp đầy

    (Phan Thị Kiều Trang - TPHCM)



    Hai nửa vầng trăng
    Chơi vơi đầu ngọn sóng
    Trong cuộc kiếm tìm nhau

    (Trần Thị Bích Liên - TPHCM)

    Tuy vậy, đó cũng là thiên nhiên trong âm thức hôm nay:
    Những chiếc lá vàng
    Xoay tròn điệu valse
    Nhạc gió

    (Vũ Tam Huề - TPHCM)

    Ngay cả cái cô tịch thường thấy trong thơ haiku xưa vẫn được cảm ứng trong một tương chiếu bất ngờ:
    Cánh chim hải âu
    Đáp xuống cột buồm lão ngư
    Hai chấm đen trên biển

    (Chinh Văn - TPHCM)

    Cánh chim và ngư ông giữa biển trời mênh mang vừa gần gũi vừa biệt lập. Có tương duyên mà vẫn cô đơn. Thơ haiku nói bằng hình ảnh, thường tránh suy lý. Nhưng đôi khi cũng có thể dung hợp, như bài thơ sau đây:
    Vượt lên từ biển mây
    Fuji nâng mặt trời đỏ rực
    Gởi trái chín tặng đời


    (Nguyễn Bão – Hà Nội)


    Đảo hoang
    Chim én về làm tổ
    Nhựa ấm dần trong cây

    (Hà Thiên Sơn - TPHCM)




    Thời gian

    Mắt thuyền không khép
    Bến sông xưa ngược chèo

    (Văn Luân – Đà Nẵng)

    Hình ảnh “Mắt thuyền không khép” và “bến sông xưa” liên kết với khái niệm “thời gian” tạo nên cái đẹp sinh động và gợi mở nhiều ý nghĩa.

    Sự khôn cùng và giấc mơ là đề tài cho một bài haiku đơn sơ mà đầy tình người:

    Bé gái

    Nhặt mảnh chai
    Mơ chiếc hài cô tấm



    (Trần Đức Việt – Bình Định)

    Vậy là cô Tấm đi vào thơ haiku trong thời chúng ta sống, trong ước vọng và thương yêu, trong bình thường và cái đẹp. Trong cuộc chơi đầy hào hứng, những người tham gia ngay bước đầu đã thể hiện tình yêu say đắm của mình đối với thơ ca, con người và thiên nhiên. Cuộc thi chứng tỏ rắng haiku có thể biểu hiện trong tiếng Việt giàu hình tượng và nhạc điệu.

    Tiếng Việt có thể phát tiết tinh anh trong thể thơ đặc biệt cô đọng này của Nhật Bản.
    Nhân loại gặp nhau trong một chén trà, có một nhà văn đã nói như thế. Và ta có thể thêm rằng, chúng ta gặp nhau, đón đợi các người bạn và bắt gặp bản thân mình trong những vẫn thơ tinh tế mang tên là haiku.


    Thanhn - Tổng hôp từ Interneet

    Các đề tài khác cùng chuyên mục:


    thay đổi nội dung bởi: Thanh-cos, 02-03-2012 lúc 04:25 PM

  2. Đã có 10 thành viên gửi lời cám ơn đến Thanh-cos vì bài viết hay này:

    cattrang (11-03-2012), DuSa (03-03-2012), Duyen Nguyen (04-03-2012), kalac (04-03-2012), ngoclan_NT (03-03-2012), nhatbui (05-03-2012), thiennhansdb (02-03-2012), thoheo (04-03-2012), Tranbinhtrong (10-03-2012), ĐaminhPhương (02-03-2012)

  3. #11
    Tên thật:
    Nguyen Duc Thanh
    Tên Thánh:
    Cosma - Maria
    Gia nhập
    06-08-2011
    Nơi cư ngụ
    Gp. Tp. HCM
    Tuổi
    50
    Bài gởi
    3,917
    Cám ơn
    12,464
    Được cảm ơn: 9,105 (3,752)
    Điểm
    5

    Trả lời: Thơ HAIKU - với người Việt

    Thử viết những bài haiku cho chính mình bạn nhé!


    Nguồn gốc thơ haiku


    Thuật ngữ “haiku” mới được sáng tạo vào những năm 1890 theo sự đề xướng của nhà thơ Shiki để chỉ bài thơ ngắn thường 17 âm tiết được viết, đọc và hiểu như một bài thơ độc lập, hoàn chỉnh.

    Nhưng thực ra, người thực sự sáng tạo ra loại thơ này là Basho (1644 – 1694). Ông đã dung hợp sự trào lộng đời thường của dòng thơ hiện đại với yếu tố cao nhã tâm linh của dòng thơ cổ điển và hoàn thiện một loại thơ ngắn 17 âm tiết (5, 7, 5). Các bạn thử đọc bài thơ nổi tiếng nhất của Basho nhé!

    ao cũ
    con ếch nhảy vào
    vang tiếng nước xao


    Ao cũ sẽ vẫn mãi im lìm, tù đọng nếu như không có con ếch bất ngờ nhảy vào. Cũng như cuộc đời vậy, sẽ thật nhàm chán nếu như bạn không tự tạo ra cho mình những bước nhảy đột phá hay sáng tạo. Âm vang của tiếng nước, âm vang của bước nhảy sẽ khiến mọi thứ sống động hẳn lên. Còn với chúng ta, âm vang của sự sáng tạo sẽ khiến ta thay đổi mãi mãi: ta không còn là ta cùng sức ì của quá khứ nữa!

    Đặc điểm thơ haiku

    Đề tài mà thơ haiku ưa chuộng chính là những sự vật nhỏ nhoi, bình thường mà ta vẫn nhìn thấy và tiếp xúc mỗi ngày. Khi nâng haiku lên sự hoàn thiện của dòng thơ tâm linh. những nhà thơ haiku như Basho, Issa… đã đã nâng lên trong lòng bàn tay bát ngát của mình những sự vật bình thường nhất của thế gian này:

    quanh chiếc cối xay
    trên mình hoa cúc lạnh
    bụi cám chập chờn bay

    Basho



    dưới bóng cây
    trú mưa cùng bướm
    duyên trần ai hay

    Issa


    Một chút “bụi cám chập chờn”, một chút “cánh bướm duyên trần”… thế cũng thành một bài thơ nhỏ xinh trong tâm hồn thi sĩ. Họ sống hồn nhiên, hít thở khí trời và lấy vẻ đẹp của thiên nhiên làm nguồn sinh lực dồi dào tiếp sức cho tâm hồn thơ ca của mình ở mọi lúc mọi nơi…

    Lưu giữ những khoảnh khắc của cuộc sống

    Một yếu tố đáng chú ý khác của haiku là yếu tố “mùa”. Các nhà thơ haiku hầu như lúc nào cũng đưa mùa vào thơ và các từ ngữ liên hệ đến mùa được gọi là “kigo” (quý ngữ). Cách dùng kigo trở thành quy luật và các tuyển tập thơ haiku thường sắp xếp các bài thơ theo từng mùa.

    Ví dụ khi Basho viết:

    một đám mây hoa
    chuông đền Ueno vang vọng
    hay đền Asakusa


    Thì người đọc hiểu ngay ông đang nhắc đến tiếng chuông mùa xuân. Vì “một đám mây hoa” ám chỉ hoa anh đào đang nở rộ, đó là biểu tượng của mùa xuân, là “từ mùa”. Cũng như ở Việt Nam ta mùa xuân đặc trưng với hoa đào, mùa hạ với hoa phượng, mùa thu với hoa cúc vậy.

    Cũng tựa như hình ảnh các mùa xuân khác: hoa mơ, liễu, hoa triêu nhan, chim én, se sẻ, bướm, chim oanh, tuyết tan… hoặc các hình ảnh về lễ nghi tôn giáo và sinh hoạt đồng áng của mùa đầu tiên trong năm. Tất nhiên, các mùa khác nhau cũng có vô vàn hình ảnh có thể dùng làm “kigo”. Nào, bây giờ thì các bạn hãy cùng Ichi thử thưởng thức haiku cho bốn mùa nhé!

    hoàng hôn
    tiếng bắn chim trĩ vang dội
    trên triền núi xuân

    Yosa Buson



    ve sầu vui hát
    không mảy may hay biết
    chết đã gần kề

    Basho



    trong âm u
    hiên nhà thấm ướt
    mưa thu

    Taigi



    trên trảng cây tuyết rơi này

    nếu chết đi, tôi cũng sẽ
    thành bức tượng phật tuyết

    Chosui


    Đọc hai bài thơ trên đây của Buson và Taigi ta sẽ thấy ngay rằng dường như đó chỉ là một cú chớp máy ảnh bắt lại khoảnh khắc, hay một bức tranh vẽ theo lối tối giản (minimalism). Chỉ một vài danh từ, một vài nét bút gợi tả mà tác giả đã vẽ nên cả một khung trời mùa xuân và mùa thu với những đặc trưng riêng có của chúng.

    Ngược lại, hai bài thơ của Basho và Chosui thì không được khách quan như thế! Đó là hai bức tranh xen lẫn ý nghĩ của tác giả. Một người thì nghĩ về cái chết sắp tới của những con ve sầu, người kia thì nghĩ về cái chết của mình. Nhưng dường như, các tác giả nghĩ về sự chết không phải để u sầu, mà với một tâm thế thản nhiên, coi đó như một phần tất yếu của cuộc sống.

    Sự phát triển của haiku

    Chuyển qua thời hiện đại, nhất là khi haiku trở thành một thể thơ quốc tế, loại thơ tam tuyệt ấy được dùng để thể hiện đề tài, một cảm thức, cả dục tính, nhục cảm. Bên ngoài Nhật Bản, hàng loạt thơ haiku đã được sáng tác bằng các ngôn ngữ khác nhau: Pháp, Anh, Đức, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Ý…

    Không còn từ mùa, không còn bị bó buộc vào luật âm tiết 5,7,5 - thơ haiku khi sang phương Tây đã được tiếp biến văn hóa rất nhiều. Các bạn hãy thử cảm nhận sự khác biệt của mỹ cảm phương Tây ở những bài haiku dưới đây:

    bình mẫu đơn
    trên nụ hoa trắng
    một dấu môi hôn

    Alexis Rotella


    hộp thư trống không
    khi về, tôi hái
    hoa dại trên đường

    Marlena Mountai


    dưới đập nước trong
    đôi áng mây lớn
    đang duỗi mình trần

    Jonh Wills

    mưa ấm trước bình minh
    dòng sữa tôi đổ trút
    vào trong sâu thẳm nàng

    Ruth Yarrow


    những áng mây trôi
    đã thổi tắt hết
    những vì sao rồi

    Penny Harter


    đêm thăm thẳm

    chỉ còn hình nhân tuyết
    đứng nhìn sao xa xăm

    David Lloyd


    Haiku xưa thuần túy nói về thiên nhiên và vẻ đẹp của sự sống, ngôn ngữ và nhân sinh quan có chăng thì cũng chỉ ảnh hưởng bởi Phật giáo. Haiku hiện đại ở phương Tây thì có gì đó đời thường hơn, gần gũi với những hoạt động sống của con người hơn. Nhưng bạn thử đọc lại bài haiku Cô liêu của David Lloyd xem, thiên nhiên vẫn là cảm hững vĩ đại của thơ haiku đấy chứ?

    Thế còn bạn, sau khi đọc bài viết này, bạn có muốn thử làm thơ haiku không? Thực ra làm thơ haiku không quá khó, chỉ cần đôi khi trong cuộc sống thường ngày tất bật của mình, bạn tự thưởng cho mình những phút giây thảnh thơi bên chén trà nóng, hay đi tản bộ trong công viên, hòa mình giữa thiên nhiên, lắng nghe lòng mình là thi ca sẽ xuất hiện. Thử viết những bài haiku cho chính mình bạn nhé! Biết đâu bạn lại bất ngờ với tài năng haiku của chính mình.

    Chúc bạn Thành công !


    Thanhn - (Tổng hợp từ internet)

    thay đổi nội dung bởi: Thanh-cos, 08-03-2012 lúc 11:38 PM

  4. Đã có 2 thành viên gửi lời cám ơn đến Thanh-cos vì bài viết hay này:

    Benedictus (11-03-2012), DuSa (10-03-2012)

  5. #12
    Tên thật:
    Nguyen Duc Thanh
    Tên Thánh:
    Cosma - Maria
    Gia nhập
    06-08-2011
    Nơi cư ngụ
    Gp. Tp. HCM
    Tuổi
    50
    Bài gởi
    3,917
    Cám ơn
    12,464
    Được cảm ơn: 9,105 (3,752)
    Điểm
    5

    Trả lời: Thơ HAIKU - với người Việt

    Basho và Cõi thơ thiền Haiku


    Trong những vì sao lấp lánh trên nền trời của thi đàn Nhật Bản, Bashô chắc hẳn là ngôi sao được nhiều người Nhật và người ngoại quốc biết đến và yêu thích nhất.

    Bashô sinh tiền rất thán phục Saigyô (1118-1190) – nhà thơ đi trước Bashô chừng năm trăm năm. Thơ waka (和歌hoà-ca, tức thơ Nhật) của Saigyô đã tạo nên những cảm hứng cho Bashô trong việc làm thơ và quan niệm về mỹ học (aesthetics), cũng như về lữ hành (tabi) – quan niệm cuộc đời là một chuyến lữ hành hay một cuộc ngao du. Nhờ biết dựa trên kinh nghiệm của tiền nhân và tài năng bẩm sinh, Bashô đã để lại nhiều áng thơ bất hủ và đã định hình thơ haiku mà chúng ta có ngày nay.

    Sinh ngày 16 tháng 12, 1644 trong một gia đình võ sĩ (samurai) cấp dưới ở thành Ueno thuộc Iga, nay là huyện Mie (三重Tam-trọng), Bashô lúc mới ra đời tên là Matsuo Kinsaku (松尾金作 Tùng-vĩ Kim-tác), lớn lên đổi thành Matsuo Munefusa (松尾宗房Tùng-vĩ Tông-phòng). Lúc phụ thân sắp mất, Bashô được tuyển vào làm gia nhân (gokenin) cho Tôdô Yoshitada, con trai thứ ba của daimyô thành Ueno. Bashô lúc này vừa lên mười chín, nhỏ hơn chủ quân hai tuổi.

    Mỗi ngày, ngoài việc giúp chuyện bếp núc, Bashô là bạn sách đèn của người chủ quân trẻ tuổi. Cả hai đều yêu thơ haikai – thú tiêu khiển tao nhã của nhiều trí thức đương thời. Yoshitada lấy bút hiệu là Sengin (蝉吟 Thiền-ngâm; tức là “Tiếng-ve-kêu”); bút hiệu của Bashô là Sôbô (宗房Tông-phòng). Người thầy dìu dắt Yoshitada và Bashô về thơ haikai là Kitamura Kigin, nhà thơ và nhà bình thơ lừng danh lúc bấy giờ.

    Bài thơ đầu tay của Bashô được sáng tác vào năm 1664, tức là Bashô vừa hai mươi tuổi. Trong tập thơ xuất bản ở Kyoto năm 1664, ta thấy có hai bài của Bashô và một bài của Yoshisada. Năm sau, Bashô, Yoshisada và ba nhà thơ khác cùng nhau làm một bài renku (連句liên cú) một trăm câu. Mười tám câu Bashô làm trong dịp này là những vần thơ đầu tiên làm theo thể renku.

    Giả sử dòng đời cứ lặng lẽ trôi đi thì chắc hẳn Bashô đã suốt đời an phận với định mệnh làm một người võ sĩ cấp dưới, thỉnh thoảng vui cùng bầu rượu túi thơ với chủ quân trong những ngày nhàn hạ. Ai ngờ con tạo trớ trêu, Yoshitada chẳng may bị bệnh mất sớm khi vừa mới hai mươi lăm tuổi (năm 1666).

    Trong khoảng sáu năm từ khi Yoshitada qua đời, không mấy ai biết rõ về tông tích của Bashô. Nhiều người đoán rằng sau khi chủ quân mất, Bashô không còn nơi nương tựa, rời cố lý lên Kyoto, vừa tiêu dao ngày tháng ở đất kinh kỳ nhằm khuây khỏa nỗi niềm luyến tiếc, vừa theo đuổi nghiệp thơ. Cũng có người tin rằng trong khoảng thời gian nói trên Bashô sống với một thiếu nữ ở Kyoto, và cô này về sau đi tu lấy pháp danh là Jutei (寿貞Thọ-trinh) – đôi khi dẫn con (có lẽ không phải là con của Bashô) lên thăm Bashô ở Edo (江戸 Giang-hộ, tức Tokyo ngày nay) sau khi nhà thơ dọn lên thành phố mới mở mang này vào năm 1672. Mối tình giữa Bashô và Jutei tuy có nhiều uẩn khúc nhưng hình như là chuyện có thật.
    Những giai thoại khác nhau về hành tung của Bashô trong khoảng thời gian này đều như muốn gợi ý là Bashô hồi còn trẻ cũng đã chia sẻ những nỗi vui buồn của con người như biết bao muôn vạn người khác trong tuổi thanh xuân.

    Ở Edo, Bashô ban đầu làm việc bàn giấy cho một công trình đào cống dẫn nước để mưu sinh kế. Lúc có thời giờ, Bashô không ngớt tìm cách trau dồi thêm về thi ca. Dần dà, Bashô thu nhận môn đệ và người ái mộ thơ Bashô ngày một nhiều. Bài thơ nổi tiếng sau đây, sáng tác lúc Bashô bai mươi lăm tuổi, đánh dấu một bước phát triển mới trong thơ Bashô nói riêng cũng như trong lịch sử thơ haiku nói chung.

    kare-eda ni trên cành khô
    karasu tomarikeri chim quạ đậu
    aki no kure chiều tàn mùa Thu


    Cành khô quạ đậu chiều tà,
    Thời gian thấm thoắt Thu đà về đây.


    Từ haiku bắt đầu thông dụng từ cuối thế kỷ 19 để chỉ một bài thơ haikai vỏn vẹn chỉ có 17 âm tiết với 3 câu theo thứ tự là 5-7-5. Bài thơ trên đây ngắn, cô đọng (câu thứ hai phá vận, lẽ ra chỉ có bảy âm tiết) chứ́a đựng nhiều hình tượng bổ sung cho nhau tựa một như bức tranh thủy mặc với những nét chấm phá đơn sơ nhưng có sức ám thị mạnh mẽ. Theo học giả Daisetz Suzuki, sức ám thị (suggestibility) và tính hàm súc là bí quyết của thơ haiku cũng như của nghệ thuật Nhật Bản nói chung.
    “Các nhà nghệ thuật Nhật Bản đều ít nhiều chịu ảnh hưởng của Thiền (Zen), họ luôn luôn có khuynh hướng diễn tả tình cảm của họ với số chữ hoặc số nét tối thiểu”. Điều tối kỵ khi làm thơ haiku là thích lý luận dông dài, “khi tình cảm đã đạt đến mức độ cao nhất, ta lặng thinh, bởi lẽ không có ngôn ngữ nào có thể diễn tả thích đáng.Ngay mười bảy âm tiết [trong thơ haiku] cũng đã quá dài”. Xem như vậy, người làm thơ haiku vừa phải là người tu luyện Thiền.

    Năm 1680, Bashô cho xuất bản tập thơ gồm “Hai mươi bài thơ do môn đệ của Tôsei sáng tác độc lập”. Tôsei, tức Đào-thanh, là một trong những bút hiệu của Bashô khi mới lên Edo. Qua tên tập thơ, ta có thể thấy lúc này Bashô đã quy tụ được nhiều môn đệ có bản lĩnh và chỗ đứng của nhà thơ trên thi đàn haikai đã được khẳng định.

    Năm ba mươi bảy tuổi, giữa lúc danh tiếng của Bashô ngày một lan rộng, nhà thơ đột nhiên quyết định thôi dạy, dọn về sống trong một túp lều tranh ở Fukagawa (深川 Thâm-xuyên) cạnh bờ sông Sumida – một vùng hẻo lánh ở Edo hồi đó[8]. Một môn đệ khá giả là Sampû (Sam-phong) xây cho thầy mình túp lều này để Bashô có thể làm bạn cùng thiên nhiên. Tương truyền Bashô trồng bên cạnh túp lều này một bụi chuối (chữ Hán gọi cây chuối là “Ba-tiêu”, tức Bashô) do môn đệ biếu.

    Cây chuối vì ít thấy ở Nhật, hàng xóm từ đó bắt đầu gọi túp lều có bụi-chuối-không-trái này là Bashô-an, tức là Am Ba-tiêu, rồi chẳng bao lâu họ gọi luôn chủ nhân của túp lều đó là Bashô-Sensei (Ba-tiêu Tiên sinh). Chủ nhân túp lều chắc vừa ý với cái tên Ba-tiêu nên từ đấy mới lấy Bashô làm bút hiệu. Ngày nay, tên gọi Bashô không thôi cũng là quá đủ!

    Đối với Bashô, cây chuối tượng trưng cho tính nhạy cảm (sensibility): trước một cơn gió nhẹ, tàu lá chuối có thể gãy bất cứ lúc nào. Nhà thơ lắng nghe tiếng lá chuối day động xào xạc mỗi lúc trời trở gió giữa đêm khuya thanh vắng. Nếu trong bản hợp tấu của thiên nhiên hoà thêm tiếng mưa rơi rả rích, không khí trong túp lều chắc hẳn lại thêm phần cô tịch và sâu lắng. Bashô có lẽ đã sáng tác bài thơ sau đây trong một khung cảnh như thế:

    bashô no waki shite cây chuối trước cơn gió
    tarai ni ame no tiếng mưa dội vào chậu hứng nước
    kiku yo kana [tôi] lắng nghe tiếng mưa đêm

    Giọt mưa rả rích ngoài hiên,
    Lá khua xào xạt, triền miên đêm dài.


    Giống như tàu lá chuối nhạy cảm trước luồng gió cơn mưa, nhà thơ để cửa hồn rộng mở, hoà mình cùng vạn vật và tinh tế trước những đổi thay của cây cỏ, đất trời. Trong đời sống hàng ngày, nhà thơ sẵn sàng cảm nhận và san sẻ mối lo âu của người khác, cho dù là những người mà nhà thơ tình cờ chỉ gặp qua một đôi lần trên bước đường đời.

    Trong khoảng thời gian này, nhân có Hoà thượng Butchô (Phật-đỉnh; 1651-1715) từ Hitachi, bây giờ là huyện Ibaraki, đến tạm trú gần Bashô-an, Bashô bắt đầu tham Thiền dưới sự chỉ dẫn của Thiền sư. Bashô sau này kể lại là có lúc nhà thơ đã có ý định nương nhờ cửa Phật.

    Tuy không phải là thiền sư, Bashô thường ăn vận như một nhà sư. Trong thảo am, ngày ngày ngồi tham Thiền và đọc sách, Bashô lần lần ý thức rằng haikai không chỉ là trò giải trí hay thú tiêu khiển, mà phải biểu lộ sâu sắc thái độ của người làm thơ đối với cuộc sống. Thơ của Bashô dần dần thể hiện vẻ đẹp u hoài diệu vợi của thiên nhiên, và cuộc sống hiu quạnh của chính mình.

    Trong khoảng thời gian này, Bashô nghiền ngẫm tư tưởng Lão Trang qua cuốn Trang Tử. Bashô cũng say mê các tác phẩm của các nhà thơ Nhật Bản như Saigyô và Sôgi, cùng các thi nhân Trung Quốc, đặc biệt là Đỗ Phủ. Thơ Đỗ Phủ có ảnh hưởng sâu đậm đến Bashô về cách diễn tả, hình tượng, và ngôn ngữ.

    Không phải ngẫu nhiên mà Bashô đã hâm mộ Đỗ Phủ. Đỗ Phủ sở trường về luật thi, lắm bài đã trở thành mẫu mực cho hậu thế. Lời thơ của Đỗ điêu luyện, hàm súc.
    “Với một số chữ, một số câu, Đỗ Phủ có thể dựng nên được mâu thuẫn xã hội hoặc cái ‘thần’ của một khung cảnh”. Chính họ Đỗ đã phát huy cao độ đặc điểm hàm súc của ngôn ngữ thơ ca”, và tính hàm súc cũng là một đặc điểm nổi bật trong thơ Bashô.

    Ngoài Đỗ Phủ, Bashô còn hâm mộ những nhà thơ Trung Quốc khác như Lý Bạch, Bạch Lạc Thiên, Hàn Sơn và Tô Đông Pha. Tuy kế thừa truyền thống của hai dòng văn học Nhật Bản và Trung Quốc, thơ haiku Bashô mang phong cách và sắc thái độc đáo, thường gọi là Shôfû (蕉風Tiêu-phong), tức là
    “phong cách độc đáo thơ haiku của Bashô” – do chính nhà thơ đã định hình. Qua thơ Bashô, lần đầu tiên một khái niệm mỹ học mang tên là sabi được đưa vào một cách hài hoà và ở một mức độ chưa từng thấy. Đến nỗi ngày nay, mỗi lần tìm cách giải thích khái niệm sabi, người ta không thể không nói đến thơ của Bashô.

    Trong văn thơ và trong nhiều lãnh vực khác của nghệ thuật Nhật Bản, sabi (寂びtịch, như trong chữ “tịch liêu”) là ý thức mỹ học đầu tiên được phổ biến qua thơ waka của Fujiwara Shunzei (1114-1204) vào cuối thời Heian và đầu thời Kamakura. Ý thức này được các nhà thơ sau đó, đặc biệt là Bashô, tiếp tục phát triển và định hình. Trên thực tế, sabi trở thành khái niệm căn bản trong thơ của Bashô. Sabi nhấn mạnh vẻ đẹp tao nhã của những dáng hình cổ kính hay của thiên nhiên cô tịch – không hào nhoáng rực rỡ, lộng lẫy, hay kiêu kỳ. Cần để ý rằng thơ haiku của Bashô tuy phảng phất không khí trầm lắng u huyền (幽玄), gợi cho người đọc sự vô thường trong cuộc đời, nhưng luôn đượm tình người và không bao giờ mang nét cay đắng chua chát hay u uất, oán hờn.

    Sau khi về ở ẩn ở Fukagawa được hai năm, vào tháng mười hai năm 1682, một cơn hỏa hoạn khốc liệt tàn phá thành phố Edo. Túp lều tranh của Bashô cũng làm mồi cho biển lửa. Theo lời thuật lại của môn đệ, Bashô lúc đó phải nhảy xuống sông Sumida và che mình bằng một chiếc chiếu để tránh sức nóng thiêu người mới thoát chết.

    Tay trắng giờ lại trắng tay, Bashô nay là kẻ không nhà. Ý tưởng phiêu bạt vốn đã nhen nhóm từ lâu trong tâm tư của nhà thơ bấy lâu đột nhiên bùng dậy. Có lẽ đây là lúc mà nhà thơ ý thức sâu sắc hơn bao giờ cả về sự tạm bợ, vô thường của cuộc đời.

    Tạm lánh thân gần nửa năm tại nhà một môn đệ vùng Kai, nay là huyện Yamanashi; tháng năm năm 1683 Bashô trở về lại Edo. Môn đệ cùng nhau góp sức dựng một Bashô-an khác ngay cùng chỗ cũ. Đầu mùa Đông năm đó túp lều dựng xong. Nhưng rồi giấc mộng hải hồ vẫn cứ thôi thúc nhà thơ.

    Nhân sinh, theo quan niệm của Bashô, là một cuộc lữ hành; hay nói đúng hơn, là những chuyến hành trình nối tiếp nhau không dứt. Trên thực tế, hơn nửa mười năm cuối cùng của đời mình, Bashô đã sống trên bước lữ hành và cũng đã trút hơi thở cuối cùng ở nơi nghịch lữ. Bashô có khi đi một mình, có khi dẫn theo một hai môn đệ. Với chiếc nón lá hay chiếc mũ vải màu lam, cây trượng và cái đãy đầu đà, Bashô đã phiêu bạt nhiều nơi trên đất nước Nhật Bản.

    Đối với Bashô, thú ngao du sơn thủy và thi ca không tách rời nhau. Vào buổi xế chiều, khi nhìn về phương trời xa thấy đàn chim đang rũ cánh bay về tổ, người lữ hành nhạy cảm làm sao không khỏi ý thức về thân phận con người? Qua ngọn bút, niềm cô tịch triền miên ấy biến thành thơ. Hoặc giả, vào lúc hoàng hôn, nghe hồi chuông chiêu mộ từ xa vọng lại, người lữ khách tự dưng cảm thấy như đâu đây phảng phất mùi Thiền… Chắc hẳn trong tâm trạng ấy, Bashô đã hạ bút viết:

    kane kiete tiếng chuông đã dứt
    hana no ka wa tsuku cảm thấy mùi hương hoa
    yûbe kana chắc hẳn hoàng hôn

    Chuông chùa dứt tiếng ngân nga,
    Hương hoa phảng phất, chắc đà hoàng hôn!


    Chuyến hành trình của Bashô bắt đầu vào mùa Thu năm 1684, lúc nhà thơ vừa đúng bốn mươi. Trước đó Bashô cũng từng đi khá nhiều, nhưng những cuộc hành trình “gió biển mây ngàn” mà người yêu văn thơ ngày sau không ngớt ca tụng đã bắt đầu từ đây.

    Rời Edo, Bashô đi dọc theo Tôkaidô (Đông-hải-đạo), “con đường thiên lý” về miền Tây chạy tắp ven bờ Thái Bình Dương. Con đường này dẫn Bashô qua chân núi Phú Sĩ, vượt khá nhiều con sông rộng trước khi đến đền thờ Thái dương Thần Nữ ở Ise. Sau khi tham bái ở ngôi đền nổi tiếng này, Bashô trở về cố lý ở Ueno thuộc vùng Iga, viếng mộ mẫu thân rồi trú lại đó khoảng bốn năm ngày. Rời Ueno, Bashô đi ngắm núi Yoshino (吉野Cát-dã), từ đó băng thẳng lên bờ phía Nam của hồ Biwa (琵琶Tỳ-bà), rồi theo đường Ômi đến đến Ôgaki thuộc vùng Minô vào hạ tuần tháng chín.

    Người quen ở đây mở hội thơ haikai đón Bashô. Qua những hội thơ như thế này người xin làm môn đệ của Bashô ngày càng đông. Từ Ôgaki, Bashô xuống Kuwana lấy thuyền đi Atsuta để lên Nagoya (名古屋 Danh-cổ-ốc). Bashô ở lại vùng này cho đến hạ tuần tháng mười hai, trước khi về quê ăn Tất niên rồi ở lại đấy thăm viếng bạn bè cho đến cuối tháng giêng. Sau đó Bashô ngao du ở Nara (奈良 Nại-lương) và Kyoto, đến cuối tháng tư năm 1685 mới về lại Edo.

    Qua chuyến đi này Bashô đã để lại tập Nozarashi kikô
    (Nhật ký cuộc hành trình gió bể mưa ngàn), viết xong năm 1687. Trong chuyến đi này, Bashô đã viết nên bài thơ bất hủ sau đây:

    furu-ike ya trong ao xưa
    kawazu tobikomu con nhái nhảy vào
    mizu no oto tiếng nước khua

    Ao xưa bóng rũ trưa hè,
    Nhái khua nước động, bốn bề tịch liêu!


    Phong cách độc đáo thơ haiku của Bashô – hay nói cách khác là Shôfû (蕉風Tiêu-phong) – được định hình từ đó.

    Qua bài thơ trên, nhằm nói lên khung cảnh yên lắng, tĩnh mịch quanh một cái ao xưa – chắc hẳn ở vườn sau một ngôi cổ tự vào một buổi trưa Hè, Bashô đã không dài dòng, dùng thanh âm (“nhái khua nước động ”) để gợi lên cảnh yên tĩnh. Mặc dầu nhà thơ không giải thích, người đọc có thể cảm nhận ngay quan hệ biện chứng giữa tĩnh và động trong bài thơ. Sau khi đọc xong, phản ứng tức thời là ta sẽ tự hỏi: “Ô kìa! Cảnh sắc tứ bề sao yên tĩnh quá, yên tĩnh đến nỗi có thể nghe tiếng nước khua khi chỉ một chú nhái con nhảy xuống ao!” Tiếng nước khua ở đây cũng như hồi chuông chiêu mộ, hay một câu công án tối nghĩa ai đó đọc lên để đánh thức ngộ tính của con người.

    Xin mở dấu ngoặc để nói thêm rằng qua ‘tiếng nước khua’ trong bài này, ta không khỏi liên tưởng đến ‘tiếng gà trưa’ trong bài “Nắng mới” của nhà thơ Lưu Trọng Lư:

    Mỗi lần nắng mới hắt bên song,
    Xao xác gà trưa gáy não nùng...


    Đối với những ai đã sống ở miền đồng quê, tiếng gà trưa của Lưu Trọng Lư chắc hẳn đã làm sống lại biết bao kỷ niệm thời niên thiếu – dĩ vãng của những ngày tháng êm đềm trong một khung cảnh rất đỗi nên thơ. Nếu không câu nệ hình thức mà chỉ nói về nội dung, hai câu thơ trên của nhà thơ họ Lưu có thể nói là một bài haiku toàn bích. Trong ý nghĩa đó, hai câu kế tiếp, tuy rất hay, nhưng chỉ có giá trị bổ túc hay giải thích:

    Lòng rượi buồn theo thời dĩ vãng,
    Chập chờn sống lại những ngày không...


    Tháng tám năm 1687, Bashô đi lên vùng Kashima, thuộc huyện Ibaraki ngày nay, một nơi có nhiều thắng cảnh cách Edo chừng năm mươi dặm về hướng Đông để ngắm trăng vào mùa gặt hái. Thiết tưởng cũng nên nói thêm ngày xưa, người Nhật có thú tao nhã là thích ngắm trăng, đặc biệt là trăng rằm tháng tám. Trước rằm tháng tám, người ta bàn trước với nhau là sẽ ngắm trăng ở đâu, rồi nhân tiện gặp ai đấy...

    Lần này sỡ dĩ Bashô chọn Kashima vì ở đấy có đền Kashima nổi tiếng, và cũng là nơi Hoà thượng Butchô đang mai danh ẩn tích. Ngày trước Hoà thượng đã từng hướng dẫn Bashô tham Thiền nhưng từ lâu Bashô chưa có dịp gặp lại.

    Hôm trước ngày rằm, từ Fukagawa Bashô lấy đò về Gyôtoku thuộc huyện Chiba ngày nay, rồi từ đó đi bộ lẫn đi đò cho đến Kajima, ở hạ lưu sông Tonegawa.

    Nào ngờ, ở Kajima trời đổ mưa vào đêm rằm tháng tám năm ấy! Bashô ngủ lại ở chùa Hoà thượng đang ẩn cư. Gần tảng sáng, trời tạnh mưa. Bashô nghe tiếng Hoà thượng đánh thức: “Trăng ra rồi đấy!” Tỉnh giấc, Bashô bước ra sân chùa nhìn lên thấy vầng trăng như đang di chuyển nhanh trên bầu trời hãy còn những đám mây vần vũ. Trời tuy đã tạnh, nhưng những hạt nước mưa hãy cò̀n đọng lại trên cành cây quanh chùa rơi lã chã trên mặt đất, tựa như hãy còn luyến tiếc cơn mưa! Không tỏ ý tiếc nuối cơn mưa đã cướp mất ánh trăng rằm đầu đêm, Bashô tức thời cảm nhận phút giây độc đáo và thi vị ấy:

    tsuki hayashi trăng đi nhanh
    kozue ha ame o hạt mưa trên lá
    mochinagara rơi lã chã

    Lưng trời mây phủ trăng trôi,
    Đầu cành mưa đọng nước rơi, rơi hoài!


    Qua chuyến đi này, Bashô đã viết Kashima kikô
    (Kashima kỷ hành), một tập nhật ký lữ hành có kèm tranh minh họa.

    Tháng chạp năm 1687, Bashô lại về miền Tây trong cuộc hành trình dài mười tháng, ghé núi Yoshino thưởng ngoạn, sau đó về thăm bến Waka-no-ura (和歌の浦Bến-thơ-Hoà-ca) cùng các thị trấn Suma và Akashi trên bờ biển Seto. Hai cuốn nhật ký viết bằng thơ Bashô sáng tác qua hai cuôc đi này là Oi no kobumi (Ký vãng của cái tráp sách dạn dày sương gió lữ hành) và Sarashina kikô (Sarashina kỷ hành). Oi no kobumi ghi lại hành trình của Bashô từ Edo cho đến Akashi, và Sarashina kikô là nhật ký lần đi ngắm trăng ở Sarashina.

    Hạ tuần tháng ba năm 1689, Bashô cùng đệ tử là Sora bắt đầu cuộc hành trình lên miền Oku ở Đông Bắc của đảo Honshû – một vùng thuở ấy hãy còn hoang sơ, chưa có người khai phá. Chuyến đi dài năm tháng, và quãng đường Bashô đã đi qua dài đến 2500 cây số!

    Rời Edo, Bashô lên đến Hiraizumi (平泉 Bình-tuyền) ở phía Bắc, rồi mới rẽ ra phía biển Nhật Bản lên Kisagata, từ đó mới dọc theo ven biển đi xuống hướng Tây Nam. Khi về đến Tsuruga phía Bắc Kyoto, Bashô đi lệch sang hướng Đông Nam, rồi dừng chân ở Ôgaki thuộc huyện Gifu ngày nay vào hạ tuần tháng tám.

    Qua cuộc hành trình này Bashô đã viết nên tập nhật ký Oku no hosomichi (Lối lên miền Oku) bất hủ. Trong những tác phẩm của Bashô, Lối lên miền Oku chắc hẳn là tác phẩm mà văn thơ Bashô đã đạt đến trình độ chín muồi nhất. Trên thực tế, Lối lên miền Oku là một trong những tác phẩm văn học cổ điển mà người Nhật ai cũng tự hào, không khác gì Kiều hay Chinh phụ ngâm đối với người Việt Nam.

    Sau chuyến đi này, Bashô về Kyoto và cố lý sống hai năm. Khi trở lại Edo vào năm 1691, danh tiếng Bashô đạt đến mức tột đỉnh. Xung quanh nhà thơ lúc nào cũng tấp nập những người ái mộ và môn đệ. Mặc dầu sức khỏe ngày càng suy yếu, Bashô vẫn chưa nguôi chí hải hồ.

    Chuyến lữ hành cuối cùng của Bashô bắt đầu vào tháng năm năm 1694. Lần này nhà thơ đi cùng với người con thứ của Jûtei là Jirôbei. Sau khi ghé thăm quê cũ, Bashô đi ngắm cảnh ở vùng Ôtsu ở gần hồ Biwa, rồi ghé Kyoto ở lại tại Rakushisha của Kyorai – trưởng tràng trong các môn đệ của nhà thơ. Rashisha (落柿舎Lạc-thị-xá tức Túp-lều-có-những-quả-hồng-rơi) ở Saga, Kyoto. Du khách chuộng thơ văn, cho đến ngày nay, rất thích thăm viếng. Ngoài vườn của túp lều tranh đơn sơ nhưng thơ mộng này vẫn còn cây hồng già thân cao vút. Vào đầu Thu, quả hồng chín mọng có thể “rơi xuống đầu” của du khách lúc nào không hay, bởi vậy mới có tên Rakushisha! Chủ nhân của túp lều đã khéo chọn một cái tên vừa thơ mộng vừa dí dỏm.

    Lúc này, Bashô đang chú tâm triển khai một khái niệm văn học mới: karumi (軽みkhinh, tức là nhẹ) – đó là tính cách “nhẹ nhàng” trong văn học. Nói rõ ra, đây là cách diễn tả trong sáng, cởi mở, nhẹ nhàng để nói lên bản chất thay đổi vô thường của sự vật.

    Đầu tháng sáu, trong khi đang ngao du ở Rakushisha, Bashô được tin Jutei qua đời trong khi đang nằm dưỡng bệnh tại Bashô-an. Tạm gửi Jirobei về Edo, Bashô xếp khăn gói về cố lý ở Ueno, có lẽ để tìm chút yên tĩnh trước cái tin đau xót này. Sinh thời, Jutei sống lủi thủi âm thầm, bị dằn vặt bởi mặc cảm “cỏ mọn hoa hèn”. Chắc hẳn vì thế nên trong cúng chiêu hồn Urabon (盂蘭盆Vu-lan-bồn), ngày rằm tháng bảy năm đó, Bashô đã viết bài thơ cầu nguyện cho cố nhân như sau:

    kazu naranu phận thấp hèn
    mi to na omoiso xin đừng ưu phiền nữa
    tama matsuri lễ chiêu hồn


    Từ nay xin hết ưu phiền,
    Phiêu diêu thoát tục nơi miền Tây phương...


    Sau khi ở lại Ueno gần hai tháng, Bashô cùng hai môn đệ và Jirôbei đi du ngoạn ở Osaka. Tình trạng sức khỏe của Bashô càng suy giảm, có ngày mới đi chừng một cây số thì người đã mệt nhoài. Có lẽ nhà thơ biết mình sắp từ giã cõi trần:

    kono aki wa mùa Thu năm nay
    nan de toshiyoru sao tôi chóng già thế
    kumo no tori chim sa mây trời

    Thu nay sao bỗng thấy già,
    Phải chăng đến lúc chim sa ven trời...


    Vốn đã tiều tụy, khi đến Osaka Bashô lại mắc thêm chứng tiêu chảy không cách gì cứu chữa. Trong những ngày cuối cùng, Bashô vẫn gượng sức có mặt tại các hội thơ mà người hâm mộ đã sắp đặt trước. Trong hội thơ tổ chức ngày 26 tháng chín tại quán ăn nổi tiếng Ukamuse, Bashô hạ bút viết:

    kono michi ya con đường này [tôi đã đi mấy năm nay]
    iku hito nashi ni không thấy ai qua nữa
    aki ni kure chiều Thu

    Con đường qua mấy năm rày,
    Gió may hiu hắt, chiều nay vắng người...


    Gió may, hay gió heo may, lạnh và khô, thường thổi vào mùa Thu. Chúng tôi đã lồng ý “mùa Thu” trong nguyên văn qua hai chữ “gió may”.
    Cách nhắc đến bốn mùa một cách gián tiếp này rất phổ biến trong haiku, được gọi là “quí ngữ季語”, tức là những ký hiệu về bốn mùa.

    Hai hôm trước khi mất, Bashô vẫn tỉnh táo, gọi môn đệ đem bút mực viết bài “Byôchûgin” (Bệnh-trung-ngâm), tức là bài thơ sáng tác khi đang bệnh.

    tabi nayande nhuốm bệnh trên bước lữ hành
    yume wa kare no o mộng đang ở trên cánh đồng
    kake meguru đang bay nhảy rong chơi

    Giữa đường nhuốm bệnh nằm đây,
    Nửa đêm trong mộng: chân mây cuối trời!


    Nhà thơ trút hơi thở cuối cùng vào ngày 12 tháng 10 năm 1694, hưởng thọ 51 tuổi.

    Thế mới biết, ngay trong giờ phút cuối cùng của cuộc đời Bashô vẫn chưa nguôi mộng sông
    hồ...

    (Theo Vĩnh Sinh)


    thay đổi nội dung bởi: Thanh-cos, 10-03-2012 lúc 01:02 AM

  6. Đã có 2 thành viên gửi lời cám ơn đến Thanh-cos vì bài viết hay này:

    Benedictus (11-03-2012), DuSa (10-03-2012)

  7. #13
    Tên thật:
    Nguyen Duc Thanh
    Tên Thánh:
    Cosma - Maria
    Gia nhập
    06-08-2011
    Nơi cư ngụ
    Gp. Tp. HCM
    Tuổi
    50
    Bài gởi
    3,917
    Cám ơn
    12,464
    Được cảm ơn: 9,105 (3,752)
    Điểm
    5

    Trả lời: Thơ HAIKU - với người Việt

    Bạn thân mến !

    Nói đến Thơ Haiku của người Nhật, Không thể không nhắc đến 4 nhân vật nổi đình, nổi đám là : Basho, Bouson, Issa và Shiki.

    Vâng trước hết xin được nói về Basho.


    BASHO

    Tên thật là Matsuo Kinsaku . Basho là bút danh ( tiếng Nhật Basho có nghĩa là cây chuối , vì Ông thích cây chuối nên lấy bút danh nầy). Ông sinh năm 1644, con trai út thứ bảy của một Samurai phục vụ cho lãnh chúa Thành Ueno . Ông làm thơ từ năm 20 tuổi . Năm 1672, ông đến Edo (ngày nay là Tokyo), thực hành Zen dưới sự chỉ dẫn của Thiền sư Butcho. Năm sau Ông xuất bản tập thơ đầu tiên mở đầu cho kiểu thơ riêng biệt của ông ( thơ haiku ) . Nhà thơ thường đi phiêu bạt nên có danh hiệu là "thi sĩ hành hương" . Năm 1694 Ông đi bộ xuống các tỉnh phía Nam của Nhật bị bệnh kiết lỵ và chết ở tuổi 50 .

    Các bài thơ tiêu biểu của Basho


    Bực mình làm sao
    cây sậy đâm ngang
    lúc tôi vun gốc chuối!


    Cành cây trơ trụi
    bóng tối mùa thu thẫm dần
    một con quạ đơn độc!


    Nhuốm bệnh trên
    đường lữ khách
    tôi mơ cánh đồng khô đang bay nhảy


    A! Ký ức kỳ diệu!
    Vô vàn cảm xúc ngày qua
    nhờ anh đào sống dậy!


    Tiếng chuông đã dứt
    cảm thấy mùi hương hoa
    chắc hẳn hoàng hôn


    Được người đưa tiễn
    đưa tiễn người cuối cùng
    mùa thu ở rừng Kiso


    Trong ao xưa
    con ếch nhảy vào
    tiếng nước khua


    Tiếng vưọn, người ơi
    đúa bé bỏ rơi đang khóc
    chỉ gió mùa thu thôi!


    Hoa rơi
    nước mà ta khát
    hóa mù sa trôi.


    Lặng yên qua mấy từng không
    lời ve ,
    gõ thấu vào lòng đá xanh


    Chập chờn
    thân đóm dường như
    tiền thân đã gọi kiếp phù du mang

    Cỏ mùa hạ
    đang chôn vùi
    bao giấc mơ chiến thắng cố chinh nhân


    Con đường ấy
    không người qua lại
    trời xẩm tối mùa thu


    Nhẹ nhàng thanh thoát
    tiếng ve ca
    thấm vào non núi


    Ve sầu vui hát
    không mảy may hay biết
    chết đã gần kề


    Đám mây trong ngày khổ ải
    từ hình quỷ
    chuyển sang hình Phật


    Tóc mẹ còn đây
    tan trong lệ nóng
    sương mùa Thu bay


    (Nguồn Internet - theo Kgr)

    thay đổi nội dung bởi: Thanh-cos, 10-03-2012 lúc 09:08 PM

  8. Đã có 4 thành viên gửi lời cám ơn đến Thanh-cos vì bài viết hay này:

    Benedictus (11-03-2012), Duyen Nguyen (10-03-2012), ngoclan_NT (10-03-2012), nguyentrivn (12-03-2012)

  9. #14
    Tên thật:
    Nguyen Duc Thanh
    Tên Thánh:
    Cosma - Maria
    Gia nhập
    06-08-2011
    Nơi cư ngụ
    Gp. Tp. HCM
    Tuổi
    50
    Bài gởi
    3,917
    Cám ơn
    12,464
    Được cảm ơn: 9,105 (3,752)
    Điểm
    5

    Trả lời: Thơ HAIKU - với người Việt

    Bạn thân mến !

    Nói đến Thơ Haiku của người Nhật, Không thể không nhắc đến 4 nhân vật nổi đình, nổi đám là : Basho, Bouson, Issa và Shiki.

    Vâng người thứ hai, xin được nói về Buson.



    BUSON



    Taniguchi Buson (còn có tên là Yosa Buson ) là thi sĩ và họa sĩ .Ông sinh năm 1716 ở ngoại ô thành Osaka . Mồ côi cha mẹ từ nhỏ . Năm 1737 , Ông đến thành Edo học vẽ và làm thơ theo Basho . Năm 1772, ra mắt tập thơ đầu tiên . Người ta biết đến Ông nhiều như là một họa sĩ . Ông chết năm 1784 .

    Các bài thơ tiêu biểu của Buson

    Băng qua vũng nông
    bàn chân cô gái
    vẩn bùn lên nước xuân trong


    Hoàng hôn
    tiếng bắn chim trĩ vang dội
    triền núi mùa xuân


    Đàn nhạn đi rồi
    cánh đồng trước cửa
    dường như xa xôi


    Chim vân tước bay
    thở ra sương gió
    dẫm lướt tầng mây



    (Nguồn Internet - theo Kgr)


  10. Đã có 3 thành viên gửi lời cám ơn đến Thanh-cos vì bài viết hay này:

    Benedictus (11-03-2012), cattrang (11-03-2012), nguyentrivn (12-03-2012)

  11. #15
    Tên thật:
    Lê Hoàng Hải
    Tên Thánh:
    Biển Đức
    Gia nhập
    15-06-2009
    Nơi cư ngụ
    Vĩnh Long
    Bài gởi
    673
    Cám ơn
    2,542
    Được cảm ơn: 2,320 (625)
    Điểm
    4

    Trả lời: Thơ HAIKU - với người Việt

    Và đây là chân dung của ông Dữ Tạ Vu Thôn (Buson)



    Ông Buson là đồ đệ của ông sư Chuối (Basho). Riêng ông Chuối (Basho) thì có nhiều duyên nợ với nhân sĩ Đại Việt đương thời lắm, có dịp con sẽ kể chuyện này, nói chung là sự giao lưu của nhân sĩ Việt và ông Chuối khá là thanh nhã thắm thiết.



    Và bên dưới là bức thư pháp Duy Thảo Tối Mỹ của Hiệu thư Đông Các Nguyễn Viết Thứ viết tặng ông Chuối, hiện treo tại nhà tưởng niệm ông Chuối ở Đông Hải Đạo (Tokaido), Nhật Bản.



  12. Đã có 4 thành viên gửi lời cám ơn đến Benedictus vì bài viết hay này:

    cattrang (11-03-2012), Duyen Nguyen (12-03-2012), nguyentrivn (12-03-2012), Thanh-cos (11-03-2012)

  13. #16
    Tên thật:
    Nguyen Duc Thanh
    Tên Thánh:
    Cosma - Maria
    Gia nhập
    06-08-2011
    Nơi cư ngụ
    Gp. Tp. HCM
    Tuổi
    50
    Bài gởi
    3,917
    Cám ơn
    12,464
    Được cảm ơn: 9,105 (3,752)
    Điểm
    5

    Trả lời: Thơ HAIKU - với người Việt

    Trích dẫn Nguyên văn bởi Benedictus Xem Bài Gởi
    ....có dịp con sẽ kể chuyện này, nói chung là sự giao lưu của nhân sĩ Việt và ông Chuối khá là thanh nhã thắm thiết....
    Rất cảm ơn Ben, nhiều - Ráng tranh thủ kể cho mọi người nghe với - À, kỳ này Ben. viết Thư Pháp Mùa Chay đã lên tay rồi đó - Thành Thật chúc mừng.

    Bạn thân mến !

    Hai nhân vật còn lại trong bốn cột trụ của Thơ Haiku là : Issa và Shiki.

    ISSA

    Kobayashi Nobuyki ( còn có tên là Kobayashi Yataro) sinh năm1763 tại Kashiwabara, tỉnh Shinano . Cuộc đời Ông nhiều bất hạnh . Ông mất mẹ thuở còn thơ ấu . Bà mẹ kế đối xử tàn tệ với Ông . Ông sống trong nghèo khổ . Con chết. Cuộc hôn nhân lần thứ hai không hạnh phúc . Tuy vậy , thơ Ông tràn đầy sự yêu đời . Năm 1777 Ông đến Edo tập làm thơ dưới sự dẫn dắt của Mizoguchi Sogan và Norokuan Chikua . Ông sinh sống nhiều nơi : Kyoto, Osaka, Nagasaki, Matsuyama ...Khi cha chết , Ông trở về Kashiwabara và cưới một thiếu nữ còn trẻ . Lúc nầy Ông đã nổi tiếng, vừa viết văn, vừa làm thơ . Ông viết trên 20.000 bài thơ haiku . Năm 1826, Ông cưới vợ lần thứ ba và mất năm 1827 .

    Các bài thơ tiêu biểu của Issa


    Đến đây nào, với tôi
    cùng chơi đùa chim sẻ
    không còn mẹ trên đời


    Gió mùa thu
    địa ngục nào đây
    cùng tôi giang hồ


    Mẹ yêu ơi!
    mỗi khi nhìn thấy biển
    khi thấy biển khơi


    Ôi những hạt sương
    trân châu từng hạt
    hiện hình cố hương


    Tóc mẹ còn đây
    tan trong lệ nóng
    sương mù thu bay


    Trăng soi
    một bầy ốc nhỏ
    khóc than đáy nồi.


    Nào biết đâu là
    hoa rơi có Pháp
    có Phật trong hoa.


    Dưới bóng hoa đào
    một bầy đánh bạc
    nhao nhao, nhao nhao.


    Ôi con người
    quắt quay len lác
    giữa nghìn hoa tươi.


    Trong thế giới này
    bước đi trên mái địa ngục
    ta nhìn hoa bay.


    Ngày mù sương
    chư Thiên cũng thấy
    đời sao chán chường.


    Nước nóng tắm rồi
    vừa xong lạy Phật
    hoa đào ta ơi!


    Quan Âm Phật Bà
    nơi nào có mặt
    anh đào ra hoa.


    Này chú dế
    hãy làm người gác mộ
    sau khi ta lìa đời


    Đẹp biết bao
    những trái ớt đỏ tươi
    sau trận gió thu


    Ruồi trên nón ta ơi
    hôm nay vào thành phố
    thành dân Edo rồi


    Mưa xuân
    lá thư vứt bỏ
    gió cuốn vô rừng




    SHIKI


    Shiki Masaoka bút danh là Masaoka Tsunenori sinh năm 1867 tại Matsuyama , cha chết lúc Ông 5 tuổi . Bà mẹ là một nhà giáo đã dạy Ông văn học Nhật và làm thơ . Ông bắt đầu làm thơ từ năm 1885 . Năm 1892 , Ông ngưng học vì lý do sức khỏe và từ đó Ông chuyên tâm làm thơ haiku và tanka ( thơ ngắn). Ông xuất bản tờ báo Nippon chuyên về thơ Haiku . Năm 1894 Ông mắc bệnh lao phổi và mất năm 1902 .


    Các bài thơ tiêu biểu của Shiki



    Chim yến thoát rồi
    một ngày Xuân đẹp
    đến giờ tàn thôi


    Chim vân tước bay
    thở ra sương gió
    dẫm lưót tầng mây


    Họ đang phơi bo bo
    phía trưóc cửa nhà kho
    giăng ngang mành tre cũ.


    Hực nồng lữa hạ bừng lên
    lòng quay quắt nóng
    nghe rền sấm van


    (Nguồn Internet - theo Kgr)

    thay đổi nội dung bởi: Thanh-cos, 12-03-2012 lúc 11:36 AM

  14. Đã có 3 thành viên gửi lời cám ơn đến Thanh-cos vì bài viết hay này:

    Benedictus (13-03-2012), cattrang (12-03-2012), Duyen Nguyen (12-03-2012)

  15. #17
    Tên thật:
    Nguyen Duc Thanh
    Tên Thánh:
    Cosma - Maria
    Gia nhập
    06-08-2011
    Nơi cư ngụ
    Gp. Tp. HCM
    Tuổi
    50
    Bài gởi
    3,917
    Cám ơn
    12,464
    Được cảm ơn: 9,105 (3,752)
    Điểm
    5

    Trả lời: Thơ HAIKU - với người Việt

    Ngôn ngữ thơ Haiku - Bài viết của Nguyễn Vũ Quỳnh Như


    Đặc trưng nổi bật của thơ haiku là tính ngắn gọn chỉ với 17 âm tiết. Từ chất liệu ngôn từ đến thi pháp mô tả đều rất cô đọng và giản dị, biểu hiện sắc thái cảm xúc khá lặng lẽ, không ồn ào, khép kín, mơ hồ. Cảm xúc của tác giả không thể hiện trực tiếp đến độc giả mà được nén chặt, che lấp cuộc vận động không ngừng của một thế giới tiềm ẩn đằng sau sự tĩnh lặng của ngôn từ được chắt lọc một cách sâu sắc và siêu việt nhất. Đó là cái đẹp diễn tả nội tâm một cách tinh tế đã làm cho haiku đạt tới tuyệt mỹ của nghệ thuật ngôn từ và cảm xúc, trở thành nghệ thuật sống mãi và tồn tại hơn 400 năm.


    1. Chất liệu mô tả – “Haiku là danh từ”

    Trong thơ haiku là vô số hình ảnh của các sự vật hiện tượng trong thiên nhiên vũ trụ như hoa, lá, chim, trăng, gió, tuyết....Vì thế danh từ được sử dụng nhiều nhất trong thơ haiku và trở thành chất liệu chủ lực để thể hiện (chứ không phải miêu tả) sự vật.

    Danh từ là ngôn từ quan trọng của haiku đến mức danh từ được xem là chủ thể của ngôn từ haiku. Trong một bài haiku có thể xuất hiện hai hoặc ba danh từ hoặc nhiều hơn vì thế haiku còn được gọi “haiku là danh từ” (1). Về ngữ pháp, danh từ trong haiku vừa có thể trở thành chủ ngữ, cũng có thể đóng vai trò vị ngữ bổ nghĩa cho trợ từ và bổ ngữ. Sự miêu tả – cụ thể hoá các tín hiệu thẩm mỹ trong haiku được thể hiện thông qua danh từ là sự miêu tả mang tính biểu trưng, tĩnh lặng.

    Về chất liệu, haiku chú trọng đến vật chất hữu hình (material) khác với cái gọi là tinh thần (spiritual) (2). Tinh thần trong haiku đã được hoà quyện bên trong sự vật hiện tượng “cái vô hạn trong hữu hạn, cử động trong bất động” theo thuyết thẩm mỹ Thiền tông (Zen). Trong Zen, chúng ta hiểu được rằng bên ngoài và bên trong không phải là hai, mà hoà quyện thành một (3). Cũng với tinh thần Thiền tông, haiku hướng chúng ta không chỉ biết nghe mà còn biết lắng nghe, không chỉ biết nhìn mà còn biết bắt gặp, biết cảm nhận, và quan trọng nhất là tính giản dị, sử dụng ít phương tiện nhất mà để lại ấn tượng sâu sắc nhất.

    Danh từ sử dụng trong haiku bao gồm danh từ chung, danh từ riêng, danh từ tính từ, danh từ phức hợp, đại danh từ, danh từ số nhiều. Danh từ chung trong haiku rất phong phú bao gồm hoa, núi, tuyết, trăng, con người, trái tim, độ sâu, vẻ đẹp... Việc chăm chút lựa chọn một danh từ “thiện mỹ” đủ sức tạo nên âm điệu cho haiku trở nên rất quan trọng. Vì thế “sứ mệnh của các thi sĩ haiku là sáng tạo ra những danh từ thiện mỹ nhằm kiện toàn ngôn ngữ tiếng Nhật” (4).

    山鳥の yama dori no chim trĩ
    尾を踏む春の o wo fumu haru no trải đuôi
    入日哉 iri hi kana xuân chiều tà
    (Yosa Buson)

    Buson chỉ sử dụng một động từ fumu (trải dài, trải qua), nhưng đếnbốn danh từ yama (núi), tori (chim), o (đuôi), haru (mùa xuân), hi (ngày) trong đó yama-dori (chim núi) là từ ghép của hai danh từ chim và núi (chim trĩ, gà lôi), iri-hi là danh từ phức hợp được ghép giữa động từ iri (vào) và danh từ hi (ngày) với nghĩa mặt trời lặn, trời về chiều. Thậm chí có bài haiku không có một động từ hay tính từ nào.


    花の雲 hana no kumo đám mây hoa
    鐘は上野か kane wa Ueno ka chuông chùa
    浅草か Asakusa ka từ Uneno hay Askakusa?
    (Matsuo Basho)

    Ẩn chứa trong trạng thái tĩnh của danh từ “đám mây hoa” là ẩn ý hoa rơi chất chồng, hay đằng sau hình ảnh “chuông chùa” là sự vận động của tiếng chuông văng vẳng đem lại nỗi nhớ nhung từ chùa Ueno hay chùa Asakusa tương tự như bài thơ dưới đây cũng chỉ toàn danh từ.

    山桜 yama zakura hoa đào núi
    雪嶺天に setsu rei ten ni trên đỉnh tuyết
    声もなし koe mo nashi thinh không
    (Mizuhara Shuoshi)

    Bài thơ không sử dụng tính từ để miêu tả sắc thái, trạng thái của sự vật như hoa tuyệt đẹp, tuyết trắng ngần mà thường sử dụng danh từ phức hợp như danh từ ghép giữa hai danh từ, giữa danh từ với động từ hoặc với tính từ hoặc trạng từ, danh từ có gốc động từ dưới dạng liên dụng của động từ, tính từ với tiếp vỹ ngữ như sa(さ), mi(み) để trở thành danh từ.


    春雪や shunsetsu ya tuyết xuân
    胸の上なる mune no ue naru dâng trào lồng ngực
    夜の厚み yoru no atsumi dày đặc cả đêm
    (Hasomi Ayako)

    Trong bài thơ trên, tính từ at-su-i (dày) đã thay tiếp vỹ ngữ i thành mi để trở thành chức năng của danh từ at-su-mi (độ dày, bề dày) nói về trạng thái của hiện tượng chứ không miêu tả hiện tượng.

    枯れ枝に kare eda ni trên cành khô
    からすの泊まりけり karasu no tomari keri quạ đậu
    秋の暮れ
    aki no kure chiều cuối thu
    (Matsuo Basho)

    Trong tiếng Nhật quá khứ phân từ có thể sử dụng như danh từ. Quá khứ phân từ tomari từ động từ tomaru (đậu) trở thành chức năng của danh từ “chỗ đậu” lại được trợ từ keri bổ nghĩa để nhấn mạnh sự hoàn thiện ngữ nghĩa “quạ đậu mãi” mà không phải sử dụng động từ và trạng từ, tránh được lối miêu tả mang tính động nhằm bảo đảm tính thiền tĩnh lặng, động trong bất động.

    Chất liệu miêu tả chủ yếu chỉ bằng danh từ trong haiku là nội lực vô song của tín hiệu thẩm mỹ của ngôn từ haiku, là sự cô đọng nhưng vẫn đạt hiệu quả tối đa của thi ca, đạt đến mức độ ẩn dấu vô song, thể hiện nét đẹp bên trong không phô trương.

    2. Thi pháp mô tả: Sâu sắc tính giản lược


    Một trong những thi pháp quan trọng của haiku là cú pháp giản lược để tăng hiệu quả cô đọng. Giản lược một cách hiệu quả các chất liệu miêu tả sẽ góp phần mang lại tính trầm mặc thần hồn cho haiku và cảm xúc sâu lắng nơi người đọc.

    Ngôn từ trong thơ haiku phải được lựa chọn sao cho có thể tạo ra sự cộng hưởng cảm xúc chung đối với bất kỳ người đọc nào (5). Chỉ để muốn tả cảnh đẹp bên bờ sông ta bắt gặp bao nhiêu là chất liệu: bờ sông, cồn cát, dòng nước trôi, ‎hàng cây ven bờ, mây xanh, gió thổi...rất rất nhiều chất liệu. Tất cả chất liệu đó không thể đưa vào trong một bài haiku vỏn vẹn chỉ 17 âm tiết, vậy chất liệu nào không cần đưa vào bài thơ, chất liệu nào phải bỏ mà vẫn tạo nên tính gợi, sức liên tưởng và cảm xúc cao độ nơi người đọc?Trong haiku có rất nhiều thủ pháp giản lược từ cách thể hiện cho đến ngôn từ...trong đó để đạt đến độ ẩn ý cao có thể kể đến các quy tắc cơ bản như sau:

    2.1. Giản lược, kiềm chế cảm xúc cá nhân

    Thơ haiku diễn tả không tràn trề màu sắc, nếu có thì chỉ là màu sắc ở độ không, ít mô tả chi tiết tác động trực tiếp vào giác quan như đậm màu như xanh lè, đỏ loét, sáng rực...hoặc tác động vào tình cảm như nỗi buồn, thương nhớ, rộn ràng, vui mừng. Thơ haiku chỉ gợi ở người đọc sự liên tưởng mạnh mẽ về một thế giới tiềm ẩn đằng sau lớp ngôn từ mang đầy tính tượng trưng, ước lệ.

    行く春や yuku haru ya mùa xuân trôi
    鳥啼き魚の tori naki uo no chim nức nở
    目は涙  me wa namida mắt cá đẫm lệ
    (Matsuo Basho)

    Ẩn ý rất mạnh đọng lại qua hình ảnh của chim, cá đại diện cho cả vũ trụ xung quanh đầy nước mắt khi phải vẫy chào tạm biệt mùa xuân, trong đó có cảm xúc của chính tác giả đã được ẩn dấu và giản lược chứ không mô tả ra bên ngoài: Basho lưu luyến không nguôi khi phải chia tay với mọi người vào ngày rời quê và cảnh vật xung quanh cũng buồn đến rơi nước mắt. Đến đây ta có thể liên tưởng đến câu thơ của Nguyễn Du với một tâm trạng tương tự “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”.

    Theo mỹ học Nhật Bản, haiku không mô tả trực tiếp như vẻ đẹp của mưa rơi, cảnh đẹp khi lá rụng, sao lấp lánh mỹ miều...mà mô tả sự vật hiện tượng ngay tại khoảnh khắc bắt gặp được và diễn tả chúng như chính chúng đang có. Dù rung động trước cảnh đẹp tuyệt trần của đảo Matsushima – nơi được xem là đẹp nhất của Nhật Bản, thi hào Basho cũng chỉ thốt lên bằng ngôn từ của chính quang cảnh đó, không lời miêu tả như không lời nào diễn tả được đến mức “thơ Basho mang đầy tính hướng nội và nếu xét theo chuẩn của phương Tây thì thơ Basho thiếu vắng cảm xúc cá nhân đến lạ kỳ”(6).

    松島や matsushima ya Tùng Đảo
    ああ松島や aa matsushima ya Ôi Tùng Đảo
    松島や matsushima ya Tùng Đảo ơi.

    松島や matsushima ya Tùng Đảo
    鶴に身をかれ tsuru no mi o kare Chim đỗ quyên
    ほととぎす hototogisu Khoác áo hạc vàng
    (Matsuo Basho)

    Hoặc như Kobayashi Issa (1763 - 1827) một trong bốn đại thụ thi sĩ haiku của Nhật Bản, đã lặng lẽ thổn thức khi con gái qua đời:


    露の世は tsuyu no yo wa thế giới giọt sương
    露の世ながら tsuyu no yo nagara trong thế giới giọt sương
    さりながら
    sari nagara lìa xa!
    (Kobayashi Issa)

    Bài thơ là hình ảnh lấp lánh của những giọt sương hay đó chính là những giọt nước mắt rơi của tác giả khi đưa tiễn con gái lìa xa cõi trần. Cảm xúc thầm kín đau buồn của tác giảđã được thể hiện lặng lẽ khép kín phía sau những giọt sương.Một thế giới quá u buồn!

    2.2. Giản lược từ mô tả

    Mỗi từ được chắt lọc sử dụng trong haiku là một giá trị rất đắt, từ ít nhưng không khô khan, đem đến cho người đọc một bức tranh hoàn mỹ có cả thế giới thiên nhiên vũ trụ và cảm xúc thầm kín của người viết. Trong thơ haiku, những từ mô tả trạng thái như thế nào, màu gì, cảm xúc vui buồn nhớ nhung...đều được lược bỏ, chỉ lưu lại hình ảnh của sự vật. Cũng vì thế haiku còn được gọi là “văn học của hình ảnh” (8).

    海暮れて umi kurete biển chạng vạng
    鴨の声 kamo no koe mờ nhạt
    ほのかに白し  honokani shiroshi tiếng ngan
    (Matsuo Basho)

    Người đọc khó có thể nắm bắt được bối cảnh không gian và thời gian của tác giảđược miêu tả như thế nào. Dường như Basho đang nhận ra trời sập tối, và ngay khoảnh khắc đó vang vọng tiếng ngan cất lên. Basho dùng từ “mờ nhạt” để mô tả tiếng ngan hay khung cảnh trước mắt mờ nhạt vì trời đã sập tối và không còn nhìn thấy rõ được gì, hay chỉ nghe gì đó loáng thoáng và mường tượng đến hình ảnh trăng trắng của chú ngan. Nhưng chính nhờ hình ảnh cô đọng “tiếng ngan mờ nhạt” lại tạo nên hiệu quả trữ tình cho tác phẩm. Thông tin về không gian, tâm trạng, cảm xúc của tác giả đều được che dấu chỉ bật lên một cảm xúc u hoài khi bắt gặp khoảnh khắc thoáng nghe tiếng ngan. Bài thơ được đánh giá là có hiệu quả cao nhất về sự giản lược các chất liệu của thơ (9), tín hiệu thẩm mỹ được thể hiện thông qua các hình ảnh vật thể trong haiku mang đậm chất biểu trưng.

    Mưa là hình ảnh rất thường thấy tronghaiku nhưng không miêu tả cụ thể mưa ào ào, mưa vũ bão hay mưa rơi tí tách... mà rất cô đọng.


    鶏頭の keitou no cơn mưa cuối Thu
    黒きにそそぐ kuroki ni sosogu rót màu đen sẫm
    時雨かな shigure kana  xuống hoa mào gà
    (Masaoka Shiki)

    Bài thơ đã sử dụng hai quý ngữ “keitou” (hoa mào gà) và “shigure” (nhưng chủ đạo là “shigure”) (mưa rào cuối Thu – báo hiệu mùa Đông sắp đến). Nhưng “một màu đen sẫm” thật rất tinh tế khi mô tả những cánh hoa mào gà đang phải hứng chịu một cơn mưa rào nặng hạt đang ào ào xối xả. Và một lần nữa, âm thanh tiếng mưa rào sầm sập, ầm ầm được ẩn mình trong một khoảng lặng!

    2.3. Giản lược các quan hệ từ

    Giản lược các quan hệ từ hay cú pháp ngữ pháp để nâng cáo tính sáng tạo trong cách diễn đạt để nhằm nhấn mạnh về sự vật mà tác giả muốn nhắm đến, bên cạnh đó làm tăng giá trị biểu cảm và ngữ nghĩa mới cho tác phẩm. Trong haiku hay sử dụng các hình thức đảo từ, đảo ngữ, xáo trộn trật tự. Không có sự liên hệ ngữ nghĩa rành mạch giữa các con chữ, liên hệ tuyến tính bị lu mờ làm tăng thêm tính đa nghĩa, mơ hồ của tác phẩm. Quan hệ giữa các từ nhiều khi bị phá vỡ, khiến người đọc có cảm giác bài thơ như sự chơi chữ. Vì tính cô đọng, thơ haiku cũng buộc phải giản lược ngay cả những giới từ thuộc phạm trù ngữ pháp làm cho haiku thêm mơ hồ.

    Trong một bài haiku chỉ có một chủ ngữ và vị ngữ giải thích cho chủ ngữ (10). Một cụm từ có khi là chủ ngữ, có khi có vai trò là vị ngữ đôi khi gây khó hiểu hoặc dễ hiểu lầm nhất là đối với những người mới bước chân vào thế giới haiku và chưa nắm bắt hết quy tắc ngôn ngữ của nó.

    時島 hototogisu chim đỗ quyên
    雲にぬれたる kumo ni nuretaru bên cửa sổ ban mai
    朝の窓 asa no mado thấm đẫm mây
    (Masaoka Shiki)

    Hototogisu (chim đỗ vũ, đỗ quyên, chim cu) sống trên đồi và chỉ bay đến kinh đô vào tháng năm được tượng trưng cho mùa hè. Trong ngôn ngữ thi ca Nhật Bản, mây gợi sự liên tưởng đến cơn mưa. Cửa sổ ban sớm ướt đẫm mây liên tưởng đến cơn mưa đêm qua của mùa hè. Sự mơ hồ của bài thơ có thể dẫn đến cách liên tưởng cũng mơ hồ theo: Chủ ngữ của ‘Thấm đẫm mây” là chim quyên hay cửa sổ còn đẫm ướt mây? Nhưng tận cùng đằng sau hình ảnh cơn mưa mùa hè ban đêm này chính là nỗi buồn và cô đơn của tác giả - thông qua hình ảnh của chim đỗ quyên đang lạnh lẽo ướt sũng - chứ không chỉ miêu tả khoảnh khắc của đêm mưa mùa hè.

    Rất nhiều bài thơ haiku sử dụng theo lối viết như vậy và dễ dẫn đến hiểu lầm như vậy nếu không phân tích kỹ về mặt ngữ pháp và biểu hiện ngôn ngữ thi ca của haiku.


    稲妻や inazuma ya trong chớp sáng
    闇の方行く yami no katayuku tiếng diệc
    五位の声 go i no koe xuyên vào màn đêm
    (Matsuo Basho)

    Có lẽ không ai ngoài tác giả hiểu được ngữ cảnh của bài thơ, nội tâm mà tác giả muốn thể hiện. Chỉ đơn giản là các hình ảnh xen lẫn âm thanh: tia chớp, bóng đêm và âm thanh của con diệc. Nếu không nắm bắt được cấu trúc ngôn từ của tiếng Nhật dễ dẫn đến những liên tưởng khác nhau: Là tiếng diệc xé vào không gian chứ không phải hình ảnh con diệc đang xuyên vào màn đêm.

    Có thể nói đây cũng là một giá trị đích thực của thi ca: giá trị của thơ là nằm ngay trên văn bản, chứ không chỉ dựa trên bối cảnh xuất xứ của tác phẩm. Và hơn hết đó là sự cảm nhận vô hình vạn trạng từ người đọc. Một tác phẩm có thể sản sinh ra nhiều bài thơ khác dựa trên các tín hiệu thẩm mỹ mà người đọc nắm bắt được qua bài thơ. Giá trị của thơ haiku là khả năng gợi mở để người tiếp nhận có thể khai phá được giá trịtiềm ẩn đã được giản lược đằng sau cái hữu hình của ngôn từ. Vì thế giản lược còn được xem là cú pháp đặc trưng và là “sinh mệnh của haiku”.


    Lời kết


    Haiku đã tạo được hiệu quả thẩm mỹ cao nhất của cái đẹp không lời, chạm được đến cái tận cùng của hình ảnh ngoài hình ảnh, nghe được thanh âm của vô thanh, đọc được cảm xúc của những khoảng lặng, chuyển cái Tĩnh thành Động, biến cái không lời thành có lời, cái vô hình thành hữu hình, trừu tượng thành cụ thể đem đến cho người đọc một siêu cảm về thế giới xung quanh, một sự liên tưởng phong phú về vạn vật.

    牛部屋に ushi-beya ni trong chuồng bò
    蚊の声よわし ka no koe yowashi vo ve tiếng muỗi
    秋の風 aki no kaze gió thu
    (Matsuo Basho)

    Quá trình lựa chọn 17 âm tiết mang ngữ nghĩa sâu sắc cũng là lúc mang lại hơi thở sức sống, có tác dụng làm tăng thêm độ âm vang, tạo ra tính hư ảo không tưởng trong haiku. Chỉ một từ nhưng mở ra cả một thế giới truyền đạt vô cùng. Âm vang đọng lại của haiku chính là cái không nhìn thấy trên bề mặt chữ của haiku. Vì thế haiku còn được xem là “văn học của trầm mặc” (7).

    Việc đề cao sự đối lập tương phản giữa VÔ CÙNG và HỮU HẠN trong thể hiện ngôn từ haiku là con đường dẫn đến Chân, Thiện, Mỹ trong haiku nói riêng và văn hóa Nhật Bản nói chung, là sân khấu Noh im lặng với ngôn ngữ của âm nhạc, là những bình hoa Ikebana phải ngắt bớt cành bớt lá chỉ điểm vài bông hoa tạo cảm giác cần phải lấp đầy những khoảng trống, là âm thanh của tiếng nước sôi khi rót vào chén trà trong khung cảnh u tịch của trà thất, thể hiện cảm thức thẩm mỹ trầm lắng mà dễ lan toả, lặng lẽ nhưng dễ lay thức hồn người, có thể thấu hiểu bản ý (本意 – hon i) của vạn vật.

    ものいわず mono iwazu thinh lặng
    客と亭主と kyaku to teishu to khách và chủ
    白菊
    shira giku to và hoa cúc trắng
    (Oshima Ryota)

    Nguyễn Vũ Quỳnh Như


    thay đổi nội dung bởi: Thanh-cos, 13-03-2012 lúc 01:43 AM

  16. Đã có 2 thành viên gửi lời cám ơn đến Thanh-cos vì bài viết hay này:

    Benedictus (13-03-2012), Duyen Nguyen (15-03-2012)

  17. #18
    Tên thật:
    Nguyen Duc Thanh
    Tên Thánh:
    Cosma - Maria
    Gia nhập
    06-08-2011
    Nơi cư ngụ
    Gp. Tp. HCM
    Tuổi
    50
    Bài gởi
    3,917
    Cám ơn
    12,464
    Được cảm ơn: 9,105 (3,752)
    Điểm
    5

    Trả lời: Thơ HAIKU - với người Việt

    Những bài thơ tuyệt tác - Bài viết của KS. Sagant Phan


    Rồi hôm nay đây , hơn 25 năm trường , tôi trỡ lại .Vũng Tàu , Thùy Dương đi lên nữa, sóng biễn rì rầm nơi xa. Ngồi trên một hòn đá biển , mà ngay xưa tôi và nàng núp chờ đêm về và ánh đèn pin được bọc vãi đỏ quơ qua quơ lại chậm rãi và tắt hiện vài lần.

    Thì bài thư tứ tuyệt của Nhật hiện về thật sự nó không phải bài thơ 4 câu tứ tuyệt , mà nó chĩ có 3 câu mà thôi . Của nhà thơ Nhật tên Miura Chora ( 1729 - 1780 ) lại được dịch ra Anh Ngữ và nay được dịch Việt Ngữ bời Vũ hoàng Thu như sau :

    "The tarnished gold
    And the fresh greenery
    Bring back memories of bygone days"

    "Vàng phai
    Cùng với ngày xanh
    Nghe ngày tháng cũ theo quanh nhau về"

    Vâng ! Tại nơi đây ngày tháng cũ theo quanh nhau về, sóng biển đánh rì rầm nơi xa , thủy triều chưa lên, nhưng hồn tôi đã lai láng kỷ niệm theo về . Nơi nầy tôi đang ngồi thu mình , sóng nước lên đánh ướt áo quần , nơi kia nàng cũng thu mình và sóng nước đánh bọt tung tóe áo quần cũa nàng . Hình như lúc đó không còn ai biết cái lạnh là gì nữa.

    Trời hơi lạnh , tôi kéo từ trong tay xách một áo len mỏng , mặc vào . Điếu thuốc lá trên môi ra khói , tôi không hút thuốc từ lâu tại Hoa kỳ . Họ cấm khắp nơi , họ nói thuốc lá gây ung thư .. và quả thật thuốc lá đối với tôi không còn nhu cầu ghiền quen nữa . Nhưng tại nơi đây không hút thuốc lá thì không được rồi.

    Cũng trong bài viết cũa nhà văn Vũ Hoàng Thư nói về thơ Nhật gọi là Haiku mà được gọi là : " Hài Cú " , cái tên nghe chưa quen nhưng nếu khéo dịch thì vào sâu trong lòng.

    :" Calm and serene
    The sound of a cicada
    Penetrates the rock"

    ( Matsuo Basho - 1644 - 1694 )

    "Lặng yên qua mấy từng không
    lời ve ,
    gõ thấu vào lòng đá xanh"


    Đúng như vậy , tay rờ hòn đá tảng vô tri nhưng tôi biết nó có nhịp tim đập rồn rã phát từ đá xanh vang ra . Kỷ niệm thì chỗ nào cũng có hồn phát ra , quyện vào không gian .

    Nơi cao xanh gió càng lúc càng phần phật kéo về , tắt điếu thuốc lá lúc nào không hay . Chim Hải âu không bay về nơi góc vằng người như tại đây , không đễ lại tiếng chim kêu từ nơi không trung vọng xuống . Nhưng tôi nghe tiếng ve gọi hồn, tâm hồn chùng xuống từ nơi nầy nếu phóng thẵng một vệt kẻ ngàn dặm biển khơi thì nó sẽ đến Hiệp chủng Quốc Hoa kỳ , đến Los Angeles không chừng . Nhưng nơi đó không có gì gọi là kỷ niệm thân yêu như tại nơi đây , Vũng Tàu quê hương nước Việt .

    Thi Vũ nói gì :

    "Em đi để lại con đường
    Ta đem bóng đổ đo lường hình xưa"


    Tôi nhớ người yêu vô cùng , đêm dần xuống từ góc trời biển Đông, rồi khuya về nữa, tôi vẫn còn ngồi nơi đây, tôi chờ một ánh sáng đèn pin hơn 25 năm trước , ánh đèn được bọc vải đỏ chờ đợi…để rồi ngàn năm miên viễn ra đi .

    "Oppressive heat
    My whirling mind
    Listen to the peals of thunder"
    Thơ cũa Masaoka- Shiki ( 1867 )


    " Hực nồng lữa hạ bừng lên
    lòng quay quắt nóng
    nghe rền sấm vang "


    " Flickering lights
    Of fireflies
    Forebode their short lives"
    ( Kawabata Bosha , 1900 )

    "Chập chờn
    Thân đóm dường như
    Tiền thân đã gọi kiếp phù du mang "


    Bài nầy đáng lý tôi không muốn viết vì về kỷ niệm đau thương nầy , nhưng khi đọc bài báo cũa anh Vũ Hoàng Thư người cũa Biển Khơi , nên tôi không còn nín lặng được nữa rồi. Mai nầy rời xa vùng biển quê hương mà về lại nơi kiếp ly hương , để mà nhớ về một điều gì ? Nàng ra đi miên viển rồi . Lãng mạng chăng ? Thi tứ chăng ? Xin còn một chút gì để nhớ để thương .Haiku hay Tứ Tuyệt hay Hài- Cú cũng vậy thôi chỉ cần tiếng gõ từ hư không vọng về . Một nụ cười cũa em và cũa anh . Nay là năm thừ 26 rồi.


    (Nguồn Internet)

    thay đổi nội dung bởi: Thanh-cos, 15-03-2012 lúc 12:40 AM

  18. Đã có 2 thành viên gửi lời cám ơn đến Thanh-cos vì bài viết hay này:

    Duyen Nguyen (15-03-2012), ngoclan_NT (15-03-2012)

  19. #19
    Tên thật:
    Nguyen Duc Thanh
    Tên Thánh:
    Cosma - Maria
    Gia nhập
    06-08-2011
    Nơi cư ngụ
    Gp. Tp. HCM
    Tuổi
    50
    Bài gởi
    3,917
    Cám ơn
    12,464
    Được cảm ơn: 9,105 (3,752)
    Điểm
    5

    Trả lời: Thơ HAIKU - với người Việt

    Thơ Haiku và Cảm nhận qua bốn mùa


    Cách đọc và hiểu một bài thơ Haiku, người ta có thể cắt đôi bài thơ. Nó gồm hai hình ảnh: hình ảnh của chúng sinh và hình ảnh vũ trụ:

    tuyết tan mùa (hình ảnh 1)
    khắp thôn làng tràn ngập
    một bầy trẻ thơ (hình ảnh 2)


    hình ảnh 1: hình ảnh vũ trụ
    hình ảnh 2: hình ảnh chúng sinh

    tôi vỗ bàn tay (hình ảnh 1)
    dưới trăng mùa hạ
    tiếng dội về ban mai (hình ảnh 2)


    hình ảnh 1: hình ảnh chúng sinh
    hình ảnh 2: hình ảnh vũ trụ

    Điều đó càng thể hiện rất rõ quan điểm nhà Phật: nhất thiết bình đẳng được lồng rất khéo trong thơ Haiku.

    Thơ Haiku, nhất là thơ Haiku của Basho có những nét thẩm mĩ rất riêng, rất cao, rất tinh tế: Haiku đề cao cái vắng lặng (Sabi), đơn sơ (Wabi), u huyền (Yugen), mềm mại (shiori), nhẹ nhàng (Karumi) chứ không thích sự ồn ào, náo nhiệt, không thích vẻ phồn tạp, sặc sỡ, hoa lệ, ủy mị, ướt át hay cứng cỏi, lên gân. Trong thơ Haiku không thích dùng nhiều tính từ và trạng từ để cụ thể hóa sự vật, nó chỉ gợi chứ không tả. Thơ Haiku để dành một khoảng không to lớn cho trí tưởng tượng của người đọc. Mỗi bài thơ Haiku tùy theo kinh nghiệm của từng người mà có thể cảnh, tình, ý khác nhau, nó chấp nhận tất cả miễn là có lí. Điều đó chứng tỏ thơ Haiku không chỉ là sự hòa điệu giữa con người và thiên nhiên Nhật, mà là sự hòa điệu giữa tác phẩm và bạn đọc, như nhà thơ Chế Lan Viên đã viết:

    “Bài thơ anh chỉ làm lấy một nửa mà thôi
    Còn một nửa để mùa thu làm lấy”


    Không gian mùa xuân: Xứ sở của hoa anh đào

    Hoa anh đào không chỉ là biểu tượng cho mùa xuân mà còn là biểu tượng của đất nước Nhật Bản. Khi hoa anh đào nở chính là lúc mùa xuân căng tròn nhất, tràn đầy nhất. Cảm xúc về vẻ đẹp tươi tắn, nhẹ nhàng, mong manh của hoa mãi là suối nguồn sáng tạo không bao giờ cạn cho thi nhân.

    Basho sinh ra trong một gia đình võ sĩ đạo, linh hồn của hoa đào chắn chắn đã kết đọng trong tâm hồn nhà thơ để thi nhân viết ra những câu thơ tài hoa, đẹp đẽ về hoa đào. Nhà thơ đã gọi hoa đào là “đám hoa mây”, bởi vẻ đẹp trùng trùng, điệp điệp của hoa như một áng mây dài, chập chùng:

    một đám mây hoa
    chuông đền Ueno vang vọng
    hay đền Asakasa


    Hoa đào không chỉ là người bạn của Basho mà còn là người tình tri kỉ để suốt đời thi nhân kiếm tìm:

    năm dặm mỗi ngày
    ta đi tìm em đấy
    hoa đào yêu dấu ơi


    Thật là bất ngờ và thú vị, một vị Thiền sư đóng cửa không giao cảm với cuộc đời mà trong lòng lại tràn ngập một cảm xúc tươi mới và tha thiết đến vậy. Điều đó ta càng cho ta hiểu rằng: tâm hồn của thi nhân không thờ ơ, vô cảm mà luôn mở rộng đón thiên nhiên, sống cùng thiên nhiên.

    Hoa đào đẹp, rực rỡ tô điểm cho mùa xuân, nhưng số phận của nó thật mong manh, ngắn ngủi, giống như kiếp “hồng nhan bạc phận”. Vậy nên ngày xưa nữ sĩ Komachi đã viết:

    hoa đào ơi
    nhan sắc phai rồi
    hư ảo mà thôi
    tôi nhìn thăm thẳm
    mưa trên đầu tôi


    Số phận ngắn ngủi của hoa đào tượng trương cho hạnh phúc thoáng qua, khó nắm bắt, theo quan niệm của nhà Phật thì nó là biểu tượng cho sự vô thường trong cuộc đời. Hoa anh đào nở đẹp nhất trong khoảng một tuần rồi rơi rụng khi độ đẹp nhất, nó là biểu tượng của tinh thần võ sĩ đạo (Samurai). Biết bao bài thơ đã viết về sự phai tàn, rơi rụng của hoa đào với sự nuối tiếc khôn nguôi:

    ước vọng đầy tim tôi
    ngọn nến nào thắp sáng
    hoa đào đang rơi
    (Shirao)


    Nhưng có lúc khoảng khắc hoa rơi cũng làm nên điều tuyệt diệu:

    trong giông bão
    áo rơm người chèo chống
    hóa áo hoa đào
    (Buson)


    Vẻ đẹp của con người ở đây được nâng lên hai lần: vẻ đẹp trong lao động và vẻ đẹp từ chiếc áo dính đầy hoa.
    Hoa đào rơi không chỉ làm xao động trong lòng người mà làm giao động cả thiên nhiên:

    từ bốn phương trời xa
    cánh hoa đào lả tả
    gợn sóng hồ Bi-oa”
    (Basho)


    Cánh hoa đào rơi vương lên mặt hồ làm mặt hồ gợn sóng, những cánh hoa đào mong manh, mềm mại cũng làm giao động mặt hồ, thật giống như bước nhảy của con ếch làm chuyển động cả mặt ao trong bài Xuân nhật. Mặt hồ Bi-oa giống như một tấm gương lớn soi chiếu cánh hoa đào, làm nó đẹp hơn khi soi chiếu trong gương, đấy chính là thẩm mĩ gương soi của người Nhật. Bài thơ thật kiệm lời ít chữ mà nói lên bao điều thú vị.

    Không gian mùa hạ: Bản đàn âm thanh của côn trùng, chim muông:

    Nhật Bản đất nước của đạo Phật, ở thời Nara, Phật giáo đã là quốc giáo vì vậy tư tưởng của nhà Phật thấm sâu vào tư tưởng của người dân. Nhà Phật xem chúng sinh bình đẳng, không phân biệt cao thấp, sang hèn. Điều này đã được thể hiện rất khéo trong những vần thơ Haiku. Không ở đâu mà các loại côn trùng: ruồi, muỗi, chấy, bọ chét, ve sầu...lại đưa vào thơ ca dung dị, đơn sơ nhưng đẹp đẽ, nâng niu đến như vậy:

    gió lộng vườn hoang
    trăng mỏng như sợi chỉ
    côn trùng kêu vang
    (Basho)

    ruồi trên nón ta ơi
    hôm nay vào thành phố
    thành dân Edo rồi
    (Basho) [bài này của Issa hay Basho?]

    Có rất nhiều biểu tượng mà người dân Nhật Bản đề cập tới trong mùa hè, như Furin (chuông gió), hanabi(pháo hoa), cảnh bình minh, nhưng có lẽ để chỉ ra đặc trưng và đầy đủ nhất, người Nhật thường hay nói đến một loài côn trùng (semi) hay còn gọi là ve sầu. Đa số người dân Nhật Bản cho rằng, tiếng kêu của loài ve sầu có thể làm cho mùa hè sinh động hơn, có sức lôi cuốn lòng người song ve sầu vẫn là biểu hiện của một cuộc đời ngắn ngủi. Chúng kêu suốt mùa hè như không có một chút thời gian nghỉ ngơi để mong có thể giữ lại khoảng khắc đẹp nhất trong cuộc đời mình:

    tiếng ve mải kêu
    không hề để lộ
    cái chết cận kề
    (Basho)


    Mùa hè trong thơ Haiku với muôn loài côn trùng đã góp một tiếng nói riêng cho thơ ca Nhật Bản, ta sẽ không tìm thấy trong thơ ca nước nào loại côn trùng được tôn trọng và nâng niu đến như thế. Chính vì vậy thơ Haiku chính là thơ của cuộc sống thực, cuộc sống trần gian với muôn màu, muôn vẻ, lung linh và huyền diệu.

    Cùng với bản đàn của côn trùng, bản đàn âm thanh của chim muông làm cho mùa hè thêm sinh động. Tiếng kêu của chim cu, chim gõ kiến...như khắc khoải vào hồn người, gợi biết bao tâm sự của thi nhân:

    tiếng chim cu kêu
    nỗi buồn ta sẽ
    tan vào tịch liêu
    (Basho)


    Tiếng gõ của chim “gõ kiến” cho ta cảm nhận cả một không khí u huyền, thâm sâu và u uẩn:

    mái lều im
    một con chim gõ kiến
    gõ ngoài trụ hiên
    (Basho)

    Bản đàn âm thanh của chim muông khi đất trời vào hạ thấm sâu da diết vào lòng người, bản đàn đó không chỉ cho ta hiểu về thiên nhiên Nhật Bản mà còn cho ta hiểu về con người Nhật, quan niệm của người Nhật về vạn vật, chúng sinh. Mỗi vần thơ là một khung trời mới mẻ, rộng lớn cho ta khám phá, tìm hiểu.

    Không gian mùa thu: Vườn hoa đầy màu sắc:

    Mùa thu mà không ngắm trăng quả là chưa nếm hết cái thi vị của mùa thu, trăng muôn đời là bạn thi nhân, người bạn thân thiết để thi nhân bộc lộ nỗi niềm. Thơ ca nói về trăng đã nhiều nhưng có lẽ muôn đời sau vẫn là đề tài không bao giờ xưa cũ. Ngày xưa Lí Bạch nhìn trăng mà nhớ về cố hương:

    "ngẩng đầu nhìn trăng sáng
    cúi đầu nhớ cố hương"
    (Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh)
    Basho ngắm trăng mà ẩn chứa biết bao nỗi niềm:

    trăng thu
    suốt đêm tôi dạo
    loanh quanh bên hồ
    (Basho
    )

    Cuộc sống biết bao lo toan, nhọc nhằn cũng không làm mất đi sự thi vị, lãng mạn. em bé cơ cực là vậy nhưng tâm hồn em vẫn trãi rộng cùng thiên nhiên, cùng ánh trăng, trong đêm yên tĩnh, thanh vắng chỉ còn một mình trăng là vẫn dõi theo khi em bé làm việc:

    em bé nhọc nhằn
    trong khi xay gạo
    vẫn nhìn lên trăng
    (Basho)


    Tâm hồn trong sáng, thuần khiết của em bé sẽ giúp em vượt qua mọi sự ô trọc, nhơ nhuốc của cuộc đời để hướng tới cái tốt lành, thánh thiện. Phong vị Thiền tông Karumi (khinh) thấm đẫm bài thơ được viết ra từ vị Thiền sư Basho.

    Mùa xuân, người Nhật có lễ hội hoa anh đào; mùa thu họ có lễ hội ngắm rừng phong, nhìn rừng phong màu vàng, cam rồi đỏ rực thật tuyệt vời biết bao, những gam màu nóng làm nổi bật bức tranh thu. Vẻ đẹp đó làm Basho phải ngạc nhiên thốt lên:

    đẹp lạ lùng
    ai mà không ghen tị
    lá đỏ rừng phong
    (Basho)

    Màu đỏ rực rỡ, chói chang của rừng phong làm thi nhân cứ ngỡ đó là mặt trời:

    đỏ bừng
    mặt trời nóng bỏng
    nhưng rồi rừng phong
    (Basho)

    a, hoa bìm bìm
    dây gàu vương hoa bên giếng
    đành xin nước nhà bên
    (Chiyo)


    Hoa bìm bìm cũng chính là hoa Asagasa, nó làm đẹp những buổi sáng mùa thu. Hoa Asagasa có vẻ đẹp vừa bình dị vừa rực rỡ, có màu tím giản dị, dịu dàng. Tâm hồn trong sáng, thánh thiện, biết rung động trước cái đẹp của nữ sĩ Chiyo không nỡ làm mất đi vẻ đẹp của hoa đang vương bên dây gàu nên nữ sĩ “đành xin nước nhà bên”. Bài thơ giản dị như lời nói hàng ngày nhưng vẫn thấm đẫm chất thơ, gieo vào lòng người những ấn tượng thật sâu sắc.

    mong manh, mong manh
    một nhành hoa cúc
    vừa đơm nụ vàng
    (Basho)


    Nhà thơ phát hiện ra nhành hoa cúc đang “đơm nụ”, một phát hiện rất tinh tế, thi nhân nhìn thấy sự chuyển động trong nụ hoa tưởng chừng như tĩnh tại. Chỉ có con mắt tinh tường của người nghệ sĩ mới thấy được điều kì diệu đó. Nhà thơ còn thấy và xót xa cho số phận mong manh của hoa cúc, mới chỉ mới đơm nụ thôi nhưng chẳng mấy chốc nữa nó sẽ tàn lụi. Tấm lòng nhân đạo của thi nhân thương cả những kiếp hoa ngắn ngủi, mong manh.

    Mùa thu ngây ngất lòng người vì mùi thơm của hoa, muôn màu muôn vẻ của sắc màu, ánh sáng dịu dành của trăng... những vẻ đẹp đó còn quyến luyến lòng người khi chia tay mùa thu. Mùa thu qua cảm nhận của thi nhân đã truyền tới đọc giả thật tinh tế, nhẹ nhàng.

    Không gian mùa đông: không gian của sự tinh khiết, thanh lọc:

    Nét đặc sắc nhất cho mùa đông Nhật Bản là tuyết trắng:

    mùa đông vò võ
    thế gian một màu
    và âm thanh gió
    (Basho)


    Tuyết trắng “một màu”, đất trời thật sự đã sang đông, không gian tràn ngập tuyết trắng: tuyết trên cành cây, tuyết trên mái nhà, tuyết ngoài đường phố... nó làm cho ta được sống trong không gian của sự thuần khiết, tinh khôi. Người Nhật tôn thờ tuyết, mong chờ nó đến để được thỏa thích chơi những trò chơi thú vị của mùa đông:

    củi lửa lên đi
    món quà của tôi rất tuyệt
    quả cầu tuyết đây
    (Basho)


    Ở trong nhà mùa đông giá lạnh, nhà thơ suy nghĩ một điều rất xúc động:

    quét tuyết sương
    mà quên sương tuyết
    cây chổi trong vườn
    (Basho)


    Cây chổi ấy, quét đi biết bao tuyết sương, bảo vệ nhà cửa đường xá... vậy mà chính nó lại phải chịu đựng sương tuyết lạnh lùng giữa đêm đông giá rét. Người ta vô tình, tưởng điều đó là bình thường, hiển nhiên nhưng thi nhân với tấm lòng nhân hậu của mình đã thương cho cây chổi tội nghiệp làm việc cho người khác mà quên mình.

    Niềm vui của thi nhân là được đi ngắm tuyết:

    đi nữa bạn ơi
    ngắm nhìn tuyết đổ
    cho dầu ta rơi


    Ta thấy thi nhân và thiên nhiên giao hòa với nhau, tuyết đổ làm thi nhân rơi theo và thi nhân đắm mình trong tuyết.

    Basho – thi nhân của những cuộc hành hương - dấu chân của nhà thơ đã in dấu không biết bao nhiêu miền đất, sứ sở để đi tìm chân lý của nhà Phật, của cõi Niết bàn, cho đến khi ốm đau bệnh tật, nằm trên giường bệnh hồn của thi nhân vẫn phiêu lưu khắp muôn nẻo:

    đau yếu giữa hành trình
    chỉ còn mộng tôi phiêu lãng
    trên những cánh đồng hoang
    (Basho)


    Đến cuối cuộc đời mình Basho trở về với tuyết, như người con trở về với đất mẹ:

    tuyết mười bộ cao
    nơi cuối cùng sống
    trong cuộc đời hay sao
    (Basho)


    Tâm hồn của Thiền sư như tuyết trắng, sau bao cuộc hành hương khắp vạn nẻo, thi nhân chọn nơi sống cuối đời mình là trên núi cao, với mênh mông tuyết. Ở đó, thi nhân sẽ thanh thản, nhẹ nhàng đi vào cõi nghìn thu.

    Như qui luật của tự nhiên, bốn mùa luôn chuyển, mùa đông ra đi cũng là lúc chúng ta tạm biệt với năm cũ, đón một năm mới. Thiên nhiên Nhật tuyệt đẹp, mỗi lần đổi mùa thiên nhiên lại mời mọc ta bước vào nhịp điệu mới, với một vẻ đẹp quyến rũ và gợi cảm vô song.

    Kết luận

    Những vần thơ Haiku ngắn gọn mà thâm sâu, giản dị, nhẹ nhàng mà tao nhã thanh cao. Nó có sức lay động hồn người đến lạ, đưa ta về cõi sâu thẳm, trở lại sự trong sáng, tinh khiết của tâm hồn. thơ Haiku thực sự đồng điệu với những tâm hồn Việt Nam là khung trời mới lạ cho những ai yêu thích tìm tòi, khám phá và chắc chắn nó rất cần nhiều tri âm của bạn đọc đất Việt.

    (N.T.T.N)


    thay đổi nội dung bởi: Thanh-cos, 17-03-2012 lúc 08:51 PM

  20. Thanh-cos, Bạn nhận được lời cám ơn cho bài viết này

    Duyen Nguyen (17-03-2012)

  21. #20
    Tên thật:
    Nguyen Duc Thanh
    Tên Thánh:
    Cosma - Maria
    Gia nhập
    06-08-2011
    Nơi cư ngụ
    Gp. Tp. HCM
    Tuổi
    50
    Bài gởi
    3,917
    Cám ơn
    12,464
    Được cảm ơn: 9,105 (3,752)
    Điểm
    5

    Trả lời: Thơ HAIKU - với người Việt

    Thơ Tuyệt Cú, Haikư và Lục Bát


    Ba thể thơ Tuyệt Cú, Haikư và Lục Bát đều là thể thơ cách luật ngắn nhất trong văn học dân tộc của Trung Quốc, Nhật Bản và Việt Nam.

    Hẳn là không chỉ ba dân tộc này mới có thể thơ ngắn của mình nhưng ở đây chỉ giới hạn trong phạm vi ba thể thơ này mà thôi.

    Trước hết, nói về những điểm tương đồng.

    Ngoài cái dấu hiệu quy mô nhỏ đến kinh ngạc của chúng ra, ba thể thơ này còn có nhiều điểm giống hoặc gần gũi nhau.

    Về sự hình thành, có thể thấy chúng đều có nguồn gốc từ thơ ca dân gian, được các nhà thơ sống gần gũi với nhân dân tiếp thu và phát triển để rồi đạt đến đỉnh cao ở các nhà thơ lớn thời trung đại của mỗi dân tộc. Đó là Lý Bạch và Đỗ Phủ ở Trung Quốc, Bashô ở Nhật Bản và Nguyễn Du ở Việt Nam. Đương nhiên đó là nhìn đại thể, còn con đường hình thành và phát triển của chũng cũng có những sự khác biệt sẽ đề cập đến sau.

    Về mặt tính chất, nếu chúng ta chỉ xét lục bát ở cấp độ một đơn vị chỉnh thể tối thiểu, tức là một chu kỳ 6 + 8, đủ để làm nên một bài lục bát đơn giản nhất, thì cả ba thể thơ tuyệt cú, haikư và lục bát đều chủ yếu là thể thơ trữ tình. Nói “chủ yếu” là vì trong quá trình phát triển chúng đều có thể thích dụng với tự sự trào phúng, triết lý...

    Cả ba thể thơ này đều có một đặc trưng cơ bản giống nhau: hàm súc cao độ. Điều này như một lẽ đương nhiên và là lý do tồn tại của thể thơ. Bởi vì chúng rất ngắn, nếu chúng không có khả năng ngụ ý và gợi ý thì chúng đã chẳng có sức sống lâu bền đến thế. Tiền đề của sự hàm súc là sự ngắn gọn. Trong ba thể thơ, dài nhất là tuyệt cú cũng chỉ 4 câu với 28 âm (nếu là thất ngôn tuyệt cú) thứ đến là haikư với 17 âm, ngắn nhất là lục bát với 14 âm. Không rõ trên thế giới có thể thơ nào ngắn hơn lục bát nữa không. Quy mô rất nhỏ, nếu không nói là cực nhỏ, mà điều gửi gắm trong đó, gợi lên từ đó lại rất phong phú, sâu xa.

    “Bên đê cổ tha thướt,
    Liễu như vòm khói xanh.
    Giá mà tơ chẳng đứt,
    Níu giữ buộc thuyền anh”.
    (Ung Dụ Chi - Liễu ven sông)

    “Dù tan đi vỡ lại
    Vầng trăng nới đáy nước
    Còn mãi”.
    (Shiki)

    “Qua cầu rút ván tháo đinh,
    Đó đà ở bạc với mình thì thôi”.
    (Ca dao)


    Có lẽ không nên phân tích, bởi vì mọi sự phân tích sẽ “cố định hóa” nội dung thâm hậu và sức gợi của tác phẩm theo chủ quan của người phân tích, làm giảm sự huyền diệu linh lung và khả năng gợi mở vào tâm hồn người đọc của những thế giới tinh tế đến vậy.

    Một điều cũng đương nhiên do tính hàm súc của thể thơ đưa lại, khiến chúng gặp nhau ở một điểm có tính quy luật: ở cả ba thể thơ, trọng tâm ý nghĩa đều ở cuối. (Có lẽ đây cũng là đặc điểm chung của các tác phẩm có quy mô nhỏ?)

    Thơ haikư là thế:

    A sa gao
    Chiếc gàu vương hoa bên giếng
    Đành xin nước nhà bên”.
    (Chiyô)


    Hai câu trước chỉ là nền, chỉ là giới thiệu bối cảnh để câu cuối thể hiện niềm trân trọng thiên nhiên và cái đẹp.

    “Mưa đông giăng đầy trời
    Một chú khỉ đơn độc
    Cũng mong chiếc áo tơi”.
    (Bashô) (bản dịch của Đoàn Lê Giang)


    Có ba câu ngắn ngủi thôi mà tấm lòng nhân cũng dành cho câu cuối. Câu một là bối cảnh lạng lùng mênh mông. Câu hai Bashô nhìn thấy chú khỉ? Câu ba là chú khỉ nhìn Bashô mà “mong chiếc áo tơi”. Chú khỉ cô đơn, chú khỉ lạnh lùng, chú khỉ không nói. Sao Bashô nhận ra? Nhà thơ đã đặt mình vào cảnh ngộ trần trụi giữa mưa đông, co ro vì lạnh của chú khỉ mà ngộ ra và “phát biểu” cái mong ước nhỏ nhoi tội nghiệp của sinh linh bé bỏng ấy. Tiếng nói nhỏ nhẹ của haikư đã chở tiếng nói của lòng nhân hậu bao la đến với mọi tấm lòng “tri âm”.

    Thơ tuyệt cú là thế:

    Đầu giường ánh trăng rọi
    Ngỡ mặt đất phủ sương.
    Ngẩng đầu nhìn trăng sáng,
    Cúi đầu nhớ quê hương.
    (Lý Bạch - Tứ đêm lặng)


    Đến nỗi có nhà nghiên cứu tinh thâm về thơ Đường đã nói: “Muốn làm một bài thơ tuyệt cú hay là phải bắt đầu từ câu... cuối”. Cũng có thể nói như vậy với haikư và lục bát.

    Đành rằng mọi quy luật đều có ngoại lệ, thi thoảng cũng có trường hợp phần cuối của bài thơ không hay bằng phần đầu. Chẳng hạn:

    Hồ xanh từ thuở chưa hoàn kiếm,
    Mượn một nơi mà trả một nơi.
    Cầm tay mới biết xa Hà Nội,
    Biết mượn gì đây để ngỏ lời.
    (Khuyết danh - Không đề)


    Trong trường hợp này, đối với tác giả thì điều muốn nói là ở hai câu sau, mà chủ yếu là câu cuối. Còn đối với người đọc thì hai câu đầu, đặc biệt là câu thứ hai là rất hay mà hai câu sau khó lòng theo được. Nhưng những trường hợp phần đầu hay hơn là rất hiếm. Nghĩa là, nhìn tổng thể thì thơ tuyệt cú gieo nặng trọng tâm ý nghĩa ở cuối bài. Điều này ta có thể kiểm chứng ở thể thơ tuyệt cú của Trung Quốc, Nhật Bản và Việt Nam. Kể cả thơ cổ và kim. Xin ví dụ một bài tuyệt cú chữ Hán của một nhà thơ người Nhật:

    “Ngọn bút có thần giục sấm vang,
    Quanh đỉnh Hương Lô khói tía tràn.
    Ông trời chẳng tiếc ngân hà nữa,
    Vì trích tiên trút xuống trần gian
    (Thanh Sơn Diên Quang-Lý Thái Bạch ngắm thác núi Lư)


    Và trong thơ hiện đại Việt Nam:

    “Sương giăng mờ trên ngõ Tạm Sương,
    Ngõ rất cụt mà lòng xa thẳm.
    Ngõ bảy thước mà lòng muôn dặm,
    Thương một đời đâu phải Tam Thương”.
    (Chế Lan Viên - Chơi chữ về ngõ Tạm Sương tức Tạm Thương)


    Xin không nêu dẫn chứng nữa vì vô số bài thơ có thể chứng minh cho luận điểm này.
    Vậy còn thơ lục bát?

    Cứ thử lấy ra bất kỳ cặp câu lục bát nào trong hàng ngàn “bài” ca dao mà toàn bài chỉ vẻn vẹn có một câu sáu và một câu tám, từ trong một bài thơ gồm nhiều chu kỳ sáu tám, thậm chí chúng ta rút ra bất cặp sáu tám nào từ một truyện thơ gồm hàng ngàn cặp sáu tám, thì chúng ta cũng hoàn toàn có thể nhận thấy: trọng tâm ý nghĩa bao giờ cũng ở câu tám (tức câu cuối của chu kỳ).

    Câu sáu thường chỉ là bước chuẩn bị cho câu tám. Câu sáu là “đề” câu tám là “thuyết”:

    “Gió sao gió mát sau lưng
    Dạ sao dạ nhớ người dưng thế này”.
    (Ca dao)

    “Trải qua một cuộc bể dâu,
    Những điều trông thấy mà đau đớn lòng”.
    (Nguyễn Du - Truyện Kiều)

    “Gió mưa là bệnh của trời
    Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng”.
    (Nguyễn Bính - Tương tư)

    “Măng non là búp măng non,
    Đã mang dáng thẳng thân tròn của tre”.
    (Nguyễn Du - Tre Việt Nam)


    Như vậy, trọng tâm ý nghĩa được dồn vào phần cuối là một đặc trưng thể loại của cả ba thể thơ. Còn một điểm tương đồng nữa là trong nền thơ ca của mỗi dân tộc, các thể thơ này có thể nói là dễ làm nhưng khó làm được cho thật hay.

    Nhà tiểu thuyết lớn nhất của thời Êđô ở Nhật Bản Ihara Saikaku được gọi là Nimanô (Nhị vạn ông) vì tài làm thơ nhanh. Trong một cuộc thi thơ ông đã đọc hầu như liên tục hơn hai vạn bài haikư trong khoảng thời gian 24 giờ đồng hồ. Dù con số hai vạn có thể không hoàn toàn chính xác nhưng chắc là Saikaku đã ứng tác rất nhiều bài haikư liên tục. Có thể do ông có tài ứng tác nhanh nhưng cũng vì thể thơ cho phép người ta có thể sáng tác nhanh, nhiều. Đành rằng đôi khi vì quá nhanh, quá nhiều nên có thể là cũng ... khó đắt.

    Thể thơ tuyệt cú cũng để lại những chùm rất sai quả. Chẳng hạn như với một chuyến đường sông. Tiền Hử (thời vãn Đường) hái được một “chùm” “Giang hành vô đề nhất bách thủ”. Sau một chuyến hành trình, Củng Tự Trân (đời Thanh) có thể cho khắc in một tập thơ 315 bài tuyệt cú “Kỷ Hợi tạp thi”. Trong những chùm thơ hàng trăm bài ấy số bài hay không nhiều.

    Còn ở Việt Nam, lục bát xuất hiện khắp nơi - trong lời ru, trên cánh đồng, trên báo tường, trên đường phố... (Tất nhiên cũng có nhà thơ chẳng bao giờ “hạ cố” đến lục bát). Gặp trường hợp nào người ta cũng có thể làm lục bát được cả (mà “Bút Tre” là một ví dụ). Nhưng sáng tác được một bài lục bát hay thật là khó. Ở đây chúng ta tạm chưa giải thích nguyên nhân của hiện tượng này.

    Mặt khác, ba thể thơ này cũng có nhiều điểm khác nhau, trong đó có sự khác nhau ngay trong những điểm tương đồng.

    Về nguồn gốc, điểm chung của chúng ta bắt nguồn từ trong thơ ca dân gian nhưng con đường định hình của chúng lại khác nhau. (Có ý kiến cho rằng có lẽ ở Việt Nam thể thơ lục bát có được từ kết quả giao lưu văn hóa với dân tộc Chăm. Nhưng ở đây tạm thời chưa đủ điều kiện để thảo luận). Tên gọi của các thể thơ này cũng xuất hiện sau trước khác nhau. Cái tên “tuyệt cú” đã được xuất hiện từ đời Lương (502 - 557) cách đây 1500 năm. Thể thơ lục bát được định danh muộn hơn, khoảng đời Hậu Lê. Còn ở Nhật Bản, thể thơ 3 dòng 5-7-5 đạt đến đỉnh cao ở thế kỷ XVII với Bashô nhưng mãi đến cuối thế kỷ XIX mới được nhà thơ Shiki định danh là haikư. Thực ra, nguồn gốc, con đường phát triển, định hình và định danh rồi lại phát triển của ba thể này là đối tượng những công trình nghiên cứu công phu tường tận. Chẳng hạn như thể thơ lục bát ở ta quá chừng quen thuộc nhưng nguồn gốc của nó cũng còn nhiều ý kiến tranh luận.

    Nguồn gốc, con đường phát triển khác nhau của ba thể thơ này cũng phản ảnh vị trí, số phận của chúng trên văn đàn của mỗi dân tộc cũng như ảnh hưởng của chúng đến văn học các dân tộc khác. Trong thơ ca của ba dân tộc Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam ba thể thơ này đều có vị trí quan trọng nhưng ảnh hưởng của chúng đối với thơ ca các nước ngoài thì rất khác nhau.

    Hình thành từ rất sớm (thế kỷ VI), lại theo con đường ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc đến các nước láng giềng “đồng văn”, thơ tuyệt cú được các nhà thơ Nhật Bản, Việt Nam tiếp thu từ rất sớm (cả ở Triều Tiên nữa nhưng hiện tại chúng tôi chưa có tài liệu nên chưa tìm hiểu được thời điểm), có thể nói là ngay từ buổi đầu xây dựng nền thơ ca dân tộc. Nhật Bản, từ thế kỷ thứ VII đã xuất hiện thơ tuyệt cú bằng chữ Hán và cho đến thế kỷ XIX, thơ tuyệt cú vẫn chiếm tỷ lệ rất cao trong thơ chữ Hán của người Nhật. (Chẳng hạn trong cuốn “Nhật Bản Hán thi hiệt anh” có 1451 bài thơ thì thơ tuyệt cú có đến 906 bài, chiếm tỉ lệ 61%. Đành rằng đây chỉ là tuyển tập nên tỉ lệ có thể chưa hoàn toàn trùng với tỉ lệ trong thực tế, nhưng tuyển tập thường vẫn có tính chất tiêu biểu nên chắc cũng phản ánh gần đúng thực tế). Ở Việt Nam, trong văn học viết, thơ tuyệt cú cũng rất phổ biến. Trong thơ Lý - Trần tức là thơ chủ yếu sáng tác bằng chữ Hán, thơ tuyệt cú chiếm tỉ lệ rất cao (nếu không nói là áp đảo). Đến các thời kỳ sau, tỉ lệ luật thi và thơ cổ thể có thể tăng lên nên tỉ lệ thơ tuyệt cú không cao như ở thời kỳ đầu. Nhưng đến cuối thế kỷ XIX sang thế kỷ XX, khi mà ảnh hưởng của thơ Trung Quốc ở Việt Nam giảm đi thì thơ tuyệt cú lại là thể được các nhà thơ Việt Nam thường sử dụng nhất trong các thể thơ ngoại lai. Hầu như các nhà thơ lớn đều có sáng tác thơ tuyệt cú. Người Việt Nam cũng thường làm thơ tuyệt cú bằng chữ Nôm và chữ Quốc ngữ. Ngay cả trong nhiều bài thơ dài được chia làm nhiều khổ 4 câu, thì từng khổ ấy cũng mang dáng dấp của bài thơ tuyệt cú. (Chẳng hạn Đây mùa thu tới, Thơ Duyên, Tràng giang, Đây thôn Vĩ Dạ,...). Điều này ít gặp trong thơ trường thiên Trung Quốc.

    Thơ haikư thì cho đến thế kỷ XIX, trước Minh Trị duy tân, chủ yếu chỉ được lưu hành trên đảo quốc Phù Tang. Nhưng cuối thế kỷ XIX sang thế kỷ XX, theo đà phát triển của kinh tế xã hội Nhật Bản, cùng với sự tiêu dùng hàng hóa Nhật Bản, thể thơ haikư cũng được nhiều nhà thơ nước ngoài biết đến và nhiều người đã tiếp thu thể thơ này. Ngày nay ảnh hưởng của thể thơ haikư đã vươn đến nhiều nơi trên thế giới. Có lẽ chưa có thể thơ nào có cái vinh dự được phổ biến rộng rãi ở nhiều kinh tuyến như thơ haikư.

    “Nằm bệnh giữa cuộc lãng du
    Mộng hồn còn phiêu bạt
    Những cánh đồng hoang vu”.
    (Bản dịch của Đoàn Lê Giang)


    Đây là bài thơ Bashô làm trước khi qua đời. Có lẽ vì nhà thơ quá yêu cuộc đời, quá yêu đất nước và con người nên muốn đong đầy tâm hồn mình mọi hình ảnh của xứ sở Phù Tang. Có lẽ trong lần “Nằm bệnh giữa cuộc làng du” này Bashô đã linh cảm được rằng bước chân mình không còn lãng du được nữa nên gửi đến “những cánh đồng hoang vu” mà mình chưa kịp đến tấm “mộng hồn phiêu bạt” của mình chăng? Như vậy, dù Bashô không thể đến nhưng nhà thơ đã gửi hồn mình, gửi thơ haikư đến với muôn nơi, đến với muôn đời.

    Đành rằng, do đặc điểm ngôn ngữ của từng dân tộc, thơ haikư khi bước vào thi đàn các nước đã có sự biến đổi đáng kể, có thể không còn là 17 âm như trên quê hương của nó, nhưng sự kiệm lời và kiểu cấu tứ thì vẫn được tôn trọng.

    Trong khi thơ tuyệt cú chỉ lan tỏa đến những nước “đồng văn”, tức là những nước đã có thời dùng chữ Hán và ngôn ngữ đơn lập âm tiết tính, thì thơ haikư lan tỏa xa rộng hơn nhiều; còn thơ lục bát vẫn chưa vượt được lũy tre xanh Việt Nam. Sự khác biệt về khả năng và phạm vi ảnh hưởng của ba thể thơ này là do nhiều nguyên nhân trong đó có cả nguyên nhân về sự phát triển kinh tế xã hội. Nhưng có lẽ nguyên nhân cơ bản vẫn là do đặc điểm về cách luật của ba thể thơ này và đặc điểm ngôn ngữ dân tộc. Tuy cùng là thơ cách luật nhưng trong ba thể thơ này mức độ chặt chẽ của cách luật có khác nhau. Có lẽ cách luật của thơ lục bát là chặt chẽ nhất, cách gieo vần cũng phức tạp hơn. Mặc dù có chấp nhận biến thể nhưng về cơ bản là cặp câu lục bát luôn đòi hỏi gieo vần bằng, gần như là thuần âm, lại phải gieo cả vần lưng và vần châu. Điều này khiến lục bát không thể “vào” được các nền thơ của ngôn ngữ đa âm và không có thanh điệu. Thơ tuyệt cú có nhiều dạng (10 dạng) trong đó loại “cổ tuyệt cú” tương đối tự do hơn, nhưng dù là dạng nào cũng phải gieo vần. Còn haikư với ngôn ngữ liên âm, không có thanh điệu dễ được tiếp nhận hơn ở các ngôn ngữ Ấn, Âu và điều quan trọng hơn là nó có thể gieo vần hoặc không. Với đặc điểm “dễ dãi” về hình thức ấy, thơ haikư dễ “nhập cảnh” hơn nhiều so với tuyệt cú và lục bát.

    Một nhà phê bình người Pháp đã nhận xét về thơ haikư rằng:

    “Sự ngắn gọn của haikư không phải là vấn đề hình thức. Haikư không phải là một tư tưởng phong phú rút vào một hình thức ngắn mà là một sự tình vắn tắt đã tìm ra được hình thức vừa vặn của mình”, (Chuyển dẫn từ: Nhật Chiêu - Thế giới thơ Haikư. Tạp chí Kiến thức ngày nay số 1).

    Vậy là, ở đâu có một “sự tình vắn tắt” cần tìm cho mình một “hình thức vừa vặn” thì người ta có thể tìm đến haikư bằng chính hình thức ngôn ngữ của mình. Có nghĩa là haikư đã truyền đi xa cái “thần” của hình thức (chứ không phải bản thân hình thức cố định của nó); nó có thể “vừa vặn” với những ngôn ngữ khác. Ngay ở Trung Quốc, Việt Nam nơi đã có tuyệt cú và lục bát thì haikư vẫn được hoan nghênh. Có người nghĩ rằng người Trung Quốc có tính tự đại e rằng không chịu tiếp thu. Không phải thế, người Trung Quốc rất chịu khó tiếp thu văn hóa ngoại lai. Ngay cả thể thơ Sonnet của Châu Âu cũng được người Trung Quốc học tập. Không ít nhà thơ Trung Quốc đã làm thơ theo kiểu haikư (như Hồ Thích, Băng Tâm...). Thơ haikư đến Việt Nam khá muộn nhưng ai đã tiếp xúc với haikư cũng trọng nể thể thơ này. Có người Việt đã làm thơ ba câu lục bát lục (vị chi là 20 âm-hiện tượng này trong ca dao trước kia đã có những rất hiếm). Và ngày nay cũng có nhiều người Việt Nam làm thơ theo kiểu haikư. Phải chăng đây là một hiện tượng tiếp thu tự phát haikư trên cái nền lục bát?

    Có một sự khác biệt rõ nữa giữa hai thể thơ tuyệt cú, haikư với thể lục bát. Ở điểm này thì ưu thế lại thuộc về lục bát. Lục bát, ở hình thức tối thiểu của nó chỉ là một cặp hai câu 14 âm vẫn hoàn toàn có thể tự thành một đơn vị tác phẩm như hàng ngàn “bài” ca dao chúng ta thường gặp. Nhưng do đặc điểm vừa gieo vần chân vừa gieo vần lưng của nó, lục bát còn có khả năng “lắp ghép” để thành một bài thơ trường thiên như: “Lỡ bước sang ngang” hoặc lắp ghép với thể thơ song thất lục bát, rồi các chu kỳ song thất lục bát lại được lắp ghép, làm thành những khúc ngâm trường thiên như Chinh phụ ngâm, Cung oán ngâm,... Đặc biệt người ta có thể viết truyện thơ bằng cách lắp ghép hàng ngàn (hoặc vô số) cặp câu lục bát lại. Khả năng “sinh nở”, lắp ghép này không thấy có ở tuyệt cú và haikư. Người ta có thể sáng tác liền một hơi hai vạn bài haikư nhưng không thành một truyện thơ. Người ta có thể sáng tác từng chùm cú xoay quanh một chủ đề như “Hí vi lục tuyệt cú” của Đỗ Phủ, “Luận thi thi” của Triệu Dực, chùm 100 bài “Giang thành vô đề nhất bách thủ”, chùm 315 bài “Kỷ Hợi tạp thi” của Củng Tự Trân, nhưng cũng không phải là truyện thơ. Nghĩa là thơ haikư và tuyệt cú không lắp ghép được. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến hiện tượng lắp ghép các chu kỳ lục bát thành truyện thơ, mà trong phạm vi bài này tạm chưa giải thích nhưng chúng tôi nêu hai nguyên nhân có thể coi là cơ bản: một là khả năng “sinh nở” bằng cách lắp ghép của thể thơ lục bát (người Việt vốn có năng khiếu “lắp ghép”); một nữa là nhu cầu sáng tác những câu chuyện (tiểu thuyết) trường thiên, nhưng ở thời trung đại trong văn học Việt Nam thể tài văn xuôi tự sự bằng chữ Nôm chưa kịp phát triển. Người ta bèn dùng hình thức văn vần để sáng tác truyện. Một điều thú vị là những truyện thơ đầu tiên của người Việt lại không bằng thơ lục bát mà bằng thể thơ Đường luật, như “Truyện Vương Tường”, “Tô Công phụng sứ”. Nhưng những thử nghiệm ấy đã không thành công. Chứng cớ là sau đó không ai làm theo lối ấy nữa và những tác phẩm ấy chỉ được các nhà nghiên cứu nhắc đến trong văn học sử chứ không được lưu truyền rộng rãi về sau. Lục bát được thử nghiệm trong diễn ca lịch sử, trong truyện Nôm bình dân thành công, rồi các nhà thơ lớn cũng dùng nó để viết truyện thơ.

    Trong ba thể thơ tuyệt cú, haikư và lục bát, chỉ có lục bát được dùng để sáng tác tác phẩm tự sự trường thiên. Đó là cái năng lực kỳ diệu khả đoản khả trường, khả thân khả xúc, co giãn tùy nhu cầu của thể lục bát. Thế rồi, đôi khi người ta rút từng cặp sáu tám ra nó vẫn có thể đứng độc lập có nghĩa được.

    Chẳng hạn:

    “Tiếc thay chút nghĩa cũ càng
    Dẫu lìa ngó ý còn vương tơ lòng”.
    “Mấy người bạc ác tinh ma
    Mình làm mình chịu kêu mà ai thương”
    (Truyện Kiều)

    “Thiện căn ở tại lòng ta
    Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”
    (Nguyễn Du-Truyện Kiều)

    “Trai thì trung hiếu làm đầu
    Gái thì tiết hạnh làm câu trau mình”
    (Nguyễn Đình Chiểu-Lục Văn Tiên)


    “Khắc xuất khắc nhập” được thế kể cũng kỳ diệu thật. Có so ra mới thấy cái sở trường kỳ diệu của lục bát, xin đừng vì nó quá gần gũi, quá quen thuộc mà coi thường.

    Phải chăng khả năng này có quan hệ họ hàng với truyền thống “câu thơ đôi” trong văn học Nam Á và Đông Nam Á? Câu trả lời xin đợi các nhà chuyên môn. Và phải chăng truyện thơ Nôm là một hợp thể giữa hai truyền thống văn hóa Đông Nam Á và Nam Á trên cơ tầng văn hóa Việt Nam? Chứng minh và giải thích giả thiết này có lẽ không phải là công việc của một công trình hay của một người. Rất mong lời giải đáp của các chuyên gia.

    Ba thể thơ tuyệt cú, haikư và lục bát với tư cách là ba thể thơ ngắn nhất của ba dân tộc láng giềng. Chúng đã và đang có vị trí quan trọng trong nền thơ ca của mỗi dân tộc. Mỗi thể có ưu điểm và lý do tồn tại, phát triển của mình. Nhưng chúng có ảnh hưởng qua lại gì với nhau không? Nếu có thì ở những điểm nào? Và tương tác như thế nào? Đó cũng là vấn đề còn để ngỏ cần được nghiên cứu thêm.

    Cuối cùng, xin lại nói về một điểm tương đồng của ba thể thơ này, cái điểm tương đồng đã là điểm xuất phát để chúng tôi nhận thấy cần có bài viết mang tính phác thảo này. Đó là: ba thể thơ này đều có vị trí quan trọng trong nền thơ ca Trung Quốc, Nhật Bản và Việt Nam mà chúng vẫn đang dồi dào sức sống và chúng tôi tin rằng chúng cũng sẽ là những thể thơ quan trọng đối với nền thơ ca của ba dân tộc trong tương lai. Tất nhiên chúng sẽ có những bước phát triển và biến đổi ít nhiều. Biến đổi chứ không biến mất. Điều này do nhiều lẽ nhưng có mấy lẽ cơ bản: trong nền văn minh hiện đại, văn chương càng cần sự hàm súc. Những áng thơ văn trường thiên tất nhiên có vị trí quan trọng nhưng những thể tài có quy mô nhỏ mà lại đầy sức gợi hẳn vẫn được ưa chuộng vì nó đáp ứng được nhu cầu của nhiều lớp người, ở nhiều trình độ khác nhau và tất cả đều hoạt động với tốc độ cao.

    Điều này cũng diễn ra ở các thể tài tự sự. Những cuộc thi truyện ngắn và cực ngắn ở một số nước trên thế giới trong đó có Trung Quốc, Việt Nam nhắc ta nhớ đến những tác phẩm “chí quái”, “chí nhân” thời Lục Triều hay truyện ngắn bằng “nắm tay” của Nhật Bản. Cho đến thế kỷ XX rồi XXI người Nhật Bản vẫn tổ chức thi và bình thơ haikư. Ở Trung Quốc từ những bài ca hai ba câu vườn dài đến Ly Tao, Khổng Tước Đông Nam phi, lại trở về những bài thơ chỉ 13 hay 15 âm, thơ Trung Quốc tìm được thể tuyệt cú 20 âm. Từ một cặp lục bát 14 âm người ta lắp ghép để thành truyện thơ hàng ngàn câu. Rồi truyện thơ nhường bước cho văn xuôi hiện đại, lục bát được các nhà thơ dùng để thể hiện những nỗi “tương tư”, những nỗi “ngậm ngùi”. Rồi nó co lại, trở về với dạng nguyên thủy tối thiểu trong thơ dân gian hiện đại mà thơ “Bút Tre” là một hiện tượng đáng chú ý. Chắc có người sẽ buồn cười vì nhắc đến “Bút Tre” sau khi nhắc đến những Nguyễn Du, Nguyễn Bính, Nguyễn Duy... Nhưng có lẽ hiện tượng “Bút Tre” cũng cần được nghiên cứu. Nó là một hiện tượng “nhại” lục bát. Nhưng nếu như với Đôn-ki-hô-tê, Xec-van-tetx đã “nhại” đồng thời khai tử cho tiểu thuyết kỵ sĩ, thì “Bút Tre” “nhại” lục bát lại thôi thúc lục bát đổi mới để tìm đường. Nguyễn Duy chẳng xuất hiện sau “Bút Tre” sao? Mà rồi lục bát kiểu “Bút Tre” cũng không bị diệt chủng. Thể thơ ấy khả đoản, khả trường, co giãn thoải mái, thâm thúy cao sang cũng được mà dí dỏm tinh nghịch cũng được. Nó nghiêm cẩn trang nhã mà cũng dễ dãi bao dung.

    Sự vận hành của các các thể loại xem ra cũng mang ít nhiều ý vị “chu nhi phục thủy” của dịch đạo. Những thế giới nghệ thuật nhỏ xinh tinh tế, chứa đựng những điều ngụ ý và gợi ý sâu xa của tuyệt cú, haikư và lục bát không chỉ là kỳ diệu trong quá khứ mà có lẽ vẫn là những thế giới lung linh mời gọi ở tương lai.


    Nguyễn Thị Bích Hải




+ Trả Lời Ðề Tài
Trang 2 trong 3 Đầu tiênĐầu tiên 1 2 3 Cuối cùngCuối cùng

Thông tin truy cập chủ đề này

Users Browsing this Thread

Hiện tại đang có 1 người cùng đọc bài viết này (0 thành viên và 1 khách)

     

Quyền Hạn Của Bạn

  • Bạn không được quyền gởi bài
  • Bạn không được quyền gởi trả lời
  • Bạn không được quyền gởi kèm file
  • Bạn không được quyền sửa bài